
LTS:
Nhà báo: Phan Thế Hải là một người từng trải và có nhiều bài báo phong phú, có giá trị trong thập niên qua. Cuốn Refresh cuộc đời của anh mới được Nhà xuất bản Hội Nhà văn liên kết Công ty Truyền thông Hà Thế xuất bản.
tonvinhvanhoadoc.vn xin lần lượt giới thiệu những bài viết được tập hợp trong cuốn sách của tác giả Phan Thế Hải
(Bản quyền tác phẩm thuộc về tác giả và Công ty Truyền thông Hà Thế. Mọi sao chép, in ấn trên báo viết báo mạng phải được sự đồng ý của tác giả và Công ty Truyền thông Hà Thế)
Giới thiệu tác giả: Nhà báo Phan Thế Hải
Sinh ngày 10/07/1959
Tại Hoa thành - Yên Thành - Nghệ An
Tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân- Hà Nội
Chuyên ngành Tài chính- Tiền tệ
ĐT di động: 0986 399 997
Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Hiện là Chủ tịch Công ty Vietnet
Tác phẩm đã in:
- Cuộc khủng hoảng đã được báo trước - NXB Thanh niên 1999
- Đặng Tiểu Bình - Nhà cải cách kinh tế hàng đầu thế kỷ XX - NXB Thanh niên 2.000
- Sửa mình để thích ứng với cuộc chơi - NXB Thanh niên 2003
- Đồng tiền khôn - NXB Thanh niên 2005
- Thị trường chứng khoán và luật chơi - NXB Văn hóa Thông tin 2006
- Một số truyện ngắn trên các báo
- Khủng hoảng tài chính - Thách thức với Việt Nam (viết chung với TS Nguyễn Đức Hưởng, TS Đoàn Thắng)
THAY LỜI NÓI ĐẦU Nửa thế kỷ trôi qua, từ khi có mặt trên cõi trần gian này, tôi đã chứng kiến những biến động lớn lao của lịch sử và đã trải qua bao giông bão của cuộc đời. Ơn cha mẹ cho tôi sự sống, ơn trời đất cho tôi niềm tin và sức mạnh. Chừng đó chặng đường đi qua, có người bảo, số ông sướng! Trong nước, ngoài nước, đi nhiều, biết nhiều, gì cũng có. Lại có người bảo, số ông khổ, hơn nửa đời người rồi, nay đây mai đó, tài cán nào có kém gì ai mà chưa nên danh nên phận gì! Cách nhìn nhận của người đời là vậy, đó là điều bình thường. Nếu họ có cách đánh giá giống nhau, đó mới là chuyện lạ. Phần mình, tôi luôn tâm đắc một điều rằng, làm Người trước hết phải làm được gì đó cho người sinh ra mình. Không bằng vật chất, tiền bạc, thì ít nhất cũng là niềm vui, niềm tin và có thể là niềm tự hào. Đó là những giá trị tinh thần. Từ cái nôi, đến quê hương, bản quán rồi mới ra đến xã hội. Đó là những thứ mà mỗi người cần phải có nghĩa vụ phải chăm bẵm, bù đắp. Cả đời tôi dường như lấy việc ấy làm niềm vui. Tất nhiên, không có chuyện phải mạch lạc, phân minh từng việc một mà thường những việc đó đan xen lẫn nhau. Nghề viết không mang lại nhiều vinh quang, tiền bạc, nhưng mang lại tri thức và bạn bè. Đó cũng chính là giá trị tinh thần. Mỗi điều mình suy ngẫm có thể là bài học cho một ai đó, hay chí ít cũng là niềm vui hoặc một sự giải tỏa trong lúc căng thẳng. Vì những lý do đó, thường tôi vẫn giành quỹ thời gian của mình cho việc viết. Viết để đăng báo là cách tốt nhất để đến với đông đảo công chúng. Thêm vào đó là có thêm nhuận bút như một sự khích lệ cần thiết. Tuy nhiên, bằng cách này cũng vấp phải một vật cản dở hơi là sự can thiệp quá sâu của tòa soạn và các cơ quan quản lý. Với sự phát triển của khoa học công nghệ, giờ đây, mỗi người có thể bày tỏ chính kiến của mình qua blog. Tôi cho rằng đó cũng là một cách thú vị và đang chọn cách đó. Tuy nhiên nếu chỉ viết không thì cuộc sống sẽ đơn điệu. Điều quan trọng hơn, không ai có thể lo thay cho đời sống vật chất của mình, đặc biệt là gia đình. Vì lý do đó, với tôi, viết chỉ như là một nhu cầu, như một phần của đời sống. Còn quan trọng hơn vẫn phải là làm cái gì đó để phục vụ cho đời sống vật chất của mình, như đã nói ở trên. Ngày nay, hoàn cảnh đã khác trước rất nhiều. Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và xu thế phẳng của thế giới, những chuyện cũ không phải ai cũng có điều kiện nhớ lại và suy ngẫm. Nhưng những trải nghiệm, đặc biệt là cách thức vượt qua những éo le của hoàn cảnh thì cơ bản vẫn không thay đổi. Đó là khát vọng sống, sống vì chính bản thân mình, vì những người thân và xã hội. Cùng với đó là niềm tin mãnh liệt vào cái thiện, cái nhân văn. Trên con đường chinh phục những trở ngại của cuộc sống, thành công và thất bại vẫn thường song hành với nhau. Tại thời điểm này đang là lúc mà tôi đối mặt với một khoảng không khó lấp đầy. Để khỏi sống trong nỗi cô đơn, để lấp đầy nỗi buồn man mác, để suy ngẫm về cuộc đời, tôi đã dành thời gian viết về những người bạn cùng thời. Cùng với đó là tập hợp lại những ghi chép về những chuyến đi từ những năm trước đó. Cuốn “Refresh cuộc đời” đã được ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Thất bại không có nghĩa là kém cỏi mà là anh chưa hoàn hảo. Thất bại không có nghĩa là đã lãng phí thời gian mà là một lý do để bắt đầu lại. Thất bại không có nghĩa là nên từ bỏ, mà là cần cố gắng nhiều hơn. Ai đó đã nói với tôi những điều đó và tôi cảm thấy thấm thía. Cuốn sách cũng là cách mà tôi chia sẻ với bạn đọc điều mà mình đang ngẫm. Phan Thế Hải Phần I: CHUYỆN QUÊ TÔI (Tặng bà con Yên Thành)
1. CHIẾC KẸO CỦA CẬU ÍCH Ở cạnh nhà tôi là nhà cố Thành. Cậu Ích là con thứ của cố Thành, sở dĩ gọi bằng cậu là vì ông cùng họ Chu với mẹ tôi. Ở quê vẫn vậy, dây mơ rễ má thế nào cũng có họ. Nếu là họ nội thì gọi bằng chú, bằng bác. Nếu là họ ngoại thì gọi bằng cậu. Tính theo huyết thống có lẽ phải bắn vài tầm đại bác mới tới, nhưng cứ gọi thế cho nó gần. Cậu hơn tôi khoảng 16 hay 17 tuổi gì đó. Khi tôi lên 4 thì cậu đã đi bộ đội. Mà là bộ đội không quân hẳn hoi. Hồi đó, cậu đang học cấp 3, người ta về tận trường tuyển. Trong số hàng trăm học sinh tham gia thi tuyển, chỉ trúng có vài người. Tin cậu trúng tuyển không quân được dân làng kể đi kể lại hàng chục năm sau vẫn chưa hết nóng hổi. Hình ảnh cậu chiếm một khoảng lớn trong ký ức tuổi thơ của tôi. Theo lời mẹ kể, tôi sinh ngày 28 tháng 11, năm Mậu Tuất, vào lúc chạng vạng chiều. Sau này biết lịch trăm năm, tra theo ngày dương đúng vào ngày 7 tháng 1 năm 1959. Các cụ nhớ là vậy, chớ ghi chép theo văn tự thì không. Sau này đi học, khai ngẫu nhiên là ngày 10 tháng 7 năm 1959. Tôi kém anh cả đúng một tuổi rưỡi. Hai anh em sát liền nhau, đi đâu cũng có nhau, nhưng tính cách thì dường như núi với biển. Có lẽ đó là do cách đặt tên của cha tôi, anh cả tôi tên Sơn, còn tôi tên Hải. Anh tôi khỏe mạnh, siêng năng, hiếu động, còn tôi thì dặt dẹo, ốm yếu hay suy tư. Duy chỉ có điều giống nhau là chúng tôi đều dễ nuôi, ăn gì cũng được, tuổi thơ thường có cảm giác đói triền miên. Phải chăng do hoàn cảnh lúc đó ăn ngày hai bữa đủ no là ước mơ cháy bỏng của mỗi người dân xứ Nghệ. Với gia đình tôi, việc lo đủ ăn lại càng là chuyện đại sự. Cũng may, vào thời đó, khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ bắt đầu, nghèo đói được coi là một tiêu chí của đạo đức, tiêu chí của sự trong sạch, tiêu chí của niềm kiêu hãnh. Giai cấp vô sản mà! Đó là giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo xã hội, giai cấp tiên tiến nhất. Nếu ai đó lỡ bị quy kết là trung nông hay địa chủ là một sự hổ thẹn. Không hài lòng với nhau, ghét nhau hay thù hận nhau, chỉ cần khép vào tội “địa chủ” hay “bóc lột” là một sự xúc phạm lớn có thể dẫn đến đánh nhau to, cạch mặt nhau ba đời không thèm nhìn. Tôn thờ cái nghèo vậy thôi nhưng nếu ai đó được một bữa ăn no thì hạnh phúc lắm. Đó là chưa nói đến miếng ăn ngon, thậm chí chỉ là lạ thôi cũng là câu chuyện kể đi kể lại hàng chục lần không chán. Một lần cậu Ích được về phép, cả xóm như có hội. Nhất là đám trẻ con như bọn tôi. Cậu mặc bộ đồ xanh Tô Châu sáng quắc. Dáng cậu cao lớn, mũi cao, thanh tú như một chàng hoàng tử mà tôi đã có lần xem trong phim ảnh. Điều đáng nhớ nhất là khi đám trẻ con chạy theo cậu về nhà. Đặt ba lô xuống, cậu lục dưới đáy ra lấy gói kẹo có túi bóng và những hàng chữ Trung quốc. Cậu bóc ra, chia cho đám trẻ nhỏ. Không ngờ trẻ con hàng xóm vây quanh cậu Ích đông đến thế. Chúng nhao nhao đòi phần mình. Anh em chúng tôi phải kiễng chân, nghển cổ chới với chìa tay ra và cuối cùng cũng được mỗi người một chiếc. Anh em tôi hý hửng mang về mà chưa chịu ăn. Cầm chiếc kẹo lên ngắm nghía như ngắm một kiệt tác nghệ thuật. Đến chiều, sau nhiều lần kiềm chế không nổi, chúng tôi mới chịu bóc ra. Anh Sơn và tôi được mỗi người nửa cái. Cái còn lại giành cho con Hường, bé nhất trong nhà. Thoạt đầu tôi chỉ mút rồi nuốt cái ực, rồi sau đó mới bỏ cả vào miệng. Chao ôi đó là lần đầu tiên trong đời, tôi mới được biết đến một thứ mùi vị lạ lùng, sung sướng đến thế! Sau này tôi mới biết trong chiếc kẹo đầu đời có vị ngọt của đường, vị ngậy của sữa, vị thơm của hương liệu. Đã không ít lần, mỗi khi lục lại ký ức tuổi thơ, tôi vẫn không thể quên được cảm giác được thưởng thức món kẹo lúc ấy. Đó là cảm giác mà hằng đêm, trong mỗi giấc mơ tôi đều thấy nó hiện về như một sự ban tặng của thượng đế với một đứa trẻ sinh ra vào thời điểm khốn khó của đất nước. Sau một thời gian huấn luyện không quân, sắp sửa tốt nghiệp thì ông cố Thành ốm nặng, cậu Ích phải về chăm ông. cố Thành bị tai biến, phải mổ. Hồi đó cố chưa đầy 60, để cứu sống phải tiếp máu, cậu Ích là người cho máu. Lần đó, dẫu được tiếp máu nhưng cố Thành không qua nổi, còn cậu Ích trở lại đơn vị, sức khỏe suy sụp trông thấy. Vì lý do đó, đợt kiểm tra cuối cùng trước khi vào nghề bay, cậu Ích bị loại. Sau đó cậu được chuyển sang binh chủng thiết giáp, làm giáo viên ở trường T500 tận Vĩnh Yên. Năm 1975, anh Sơn tôi nhập ngũ, thành lính tăng, được học ở trường T500, trở thành học trò của cậu. Hè năm 1978, từ trường Hàng hải về Hà Nội, tôi lên trên đó thăm anh Sơn, gặp cậu Ích, lúc đó cậu hỏi han tình hình rồi pha cho tôi một cốc sữa bột, loại sữa nhập từ Liên Xô, sau khi pha với nước sôi để nguội vẫn còn vón thành cục như bột mì, vừa uống sữa vừa nhai nhưng vẫn sướng. Giờ đây, khi trên sạp của các cửa hàng tạp hóa xuất hiện hàng trăm loại sữa, nội ngoại đủ cả, thậm chí với một đứa trẻ con bình dân vẫn có quyền chọn loại sữa nào, mùi vị gì thì mới dùng, còn hồi đó, việc được mua sữa bột của Liên Xô đã chứng minh một thang bậc quan trọng của ngạch sỹ quan. Sau lần đó tôi phục cậu sát đất và vẫn coi cậu là thần tượng. Cậu Ích làm giáo viên, tham gia giảng dạy, tham gia viết bài cho các tạp chí quân sự, nhưng vợ con thì vẫn ở Vinh. Ở Vĩnh Yên một thời gian, cậu xin chuyển về Vinh. Năm 2000, cậu về hưu với quân hàm đại tá, đây là cấp bậc cao nhất ở quân đội mà chưa có người Yên Thành nào vượt qua được. Tôi là hàng xóm của cậu, lại gắn với những kỷ niệm khó quên thời ấu thơ nhưng từ hồi đó đến giờ, tôi chỉ gặp cậu có vài ba lần gì đó, lần nào cũng chỉ gặp qua, chào hỏi dăm ba câu rồi ai bận việc người nấy. Khác với cậu Ích, cậu Lâm, em ruột cậu Ích, đi du học ở Trung Quốc, sang đó được 1 năm thì các đồng chí bên đó phát động đại cách mạng văn hóa, cùng với các lưu học sinh khác, cậu Lâm về nước học Đại học Thủy Lợi. Tốt nghiệp, cậu được phân công vào Nam, đi hết công trường nọ, công trường kia rồi về làm ở Công ty xây dựng thủy lợi 24. Năm 1994, cậu trở thành giám đốc của công ty này. Thỉnh thoảng có việc vào Vinh công tác, tôi có dịp tạt qua đó, vừa thăm hỏi cậu, vừa lấy thông tin cho công việc của mình. Mỗi lần như thế đều được cậu tiếp đón ân cần, ra về còn cho quà. Sau 15 năm làm giám đốc, năm 2008 cậu chuyển sang làm Chủ tịch Hội đồng quản trị. Cũng nhờ uy tín của cậu, bà con hàng xóm người Yên Thành vào đó đều được cậu giúp đỡ hoặc việc này việc nọ. Có người là việc làm, việc học hành, có người chỉ là những lời khuyên… Nhưng quan trọng hơn, họ thấy ở cậu là một tấm gương về sự vươn lên để rồi có cơ hội giúp đỡ người khác. Cùng anh em ở chỗ ông Thành còn có ông Hoạch. Là chú họ của ông Ích, ông Hoạch con nhà nghèo, học hết lớp 7, thoát ly, làm công nhân rồi tham gia bình dân học vụ, học tiếp đại học tại chức rồi trở thành giám đốc một công ty trong ngành hóa chất. Năm 1977, khi tôi đi thi đại học trở về, ông sang nhà hỏi tôi: bài vở mần ra răng? Tôi nói về các bài thi ba môn toán, lý, hóa. Nghe xong, ông bảo: độ, độ, rứa là độ… Tôi nghe vậy nhưng cũng không chú tâm lắm, quả đúng như ông nói, năm đó tôi đỗ vào đại học Hàng hải, một trường vào loại danh giá nhất thời bấy giờ. Con gái lớn của ông Thành tên Dung, lấy anh Nguyễn Thế Trung. Hồi đầu anh Trung là cán bộ ở trạm giống, có cơ sở ươm giống ở Đội Nương- Hoa Thành. Hồi đó, người ta thấy anh Trung cũng xắn quần lội ruộng, cũng nhổ mạ, cũng bón phân chẳng khác nào nông dân như chúng tôi. Sau đó anh lên huyện, lên tỉnh rồi sau này trở thành ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy. Giờ đây, được gặp bà tỉnh trưởng, nghĩ thấy choáng nhưng thực ra, thời thơ ấu, bọn con Dung đều giống tôi, đi chân đất, vặt ổi xanh và đã từng được cậu Ích cho mỗi đứa một cái kẹo Trung Quốc như là một kiệt tác ẩm thực đầu đời mà bọn tôi được thưởng thức. Bây giờ và mãi mãi về sau này, dù ăn cao lương mỹ vị thế nào đi nữa tôi cũng không bao giờ tìm lại được cái cảm giác sung sướng tột đỉnh, cái hương liệu ngất ngây từ cái kẹo ấy. Tôi thầm cảm ơn cậu Ích đã cho tôi phút giây thăng hoa đích thực! 07/2009 2. CỦ KHOAI CỦA HỒNG LỤC Người miền Trung có câu: “Nghệ Yên Thành - Thanh Nông Cống”, để chỉ sự phồn thịnh của Yên Thành. Cùng ý đó, người Nghệ An còn có câu: “Yên Thành là mẹ là cha, đói cơm rách áo thì ra Yên Thành”. Là huyện trồng lúa nổi tiếng của xứ Nghệ, trong mọi thời, Yên Thành đều chiếm khoảng 15% sản lượng lương thực của toàn tỉnh. Tiếng là huyện lúa, nhưng kể từ khi tôi lớn lên, chuyện đủ ăn ngày hai bữa cơm đối với nhiều người vẫn là điều xa xỉ. Thay vào sự thiếu hụt đó là khoai, là sắn. Bởi lẽ, khoai sắn thường được thu hoạch vào vụ giáp hạt. Người dân xã Hoa Thành thường mua sắn ở chợ Láng, thuộc xã Quang Thành, một xã miền sơn cước ở phía Tây Yên Thành. Hồi học lớp 6, khoảng 13 tuổi, đã có lần tôi theo cánh anh Thuận, chị Thúy lên đó mua sắn rồi gánh về. Với tôi lúc đó là chuyến đi dài như lên cung trăng. Dưới chân chúng tôi là con đường đất sau vài trận mưa bị xói lở như bộ xương người, gập ghềnh đầy ổ trâu ổ gà, qua nhiều đèo dốc, lại phải đi bộ. Hai bên đường là những ngọn núi bị chặt trơ trọi như những cái đầu lở loét. Dẫu gánh trên vai có hơn hai chục cân sắn nhưng với một đứa trẻ 13 tuổi, nó nặng như núi Thái Sơn. Khi về đến Đồng Vằng, tôi mới nhận thấy, hai bàn chân đã dày đặc những vết phồng rộp. Đúng vào lúc đó, như có phép màu, mẹ tôi lên rước, nhờ đó mà tôi lê lết được nốt quãng đường còn lại. Muốn ăn khoai, phải mua ở chợ Mọ, thuộc xã Hậu Thành, cách nhà tôi hơn chục cây số. Đây là vùng bán sơn địa, việc tưới tiêu thất thường, nhưng trồng khoai thì ngon nổi tiếng. Đời vui vậy, những nơi khoai sắn là chủ lực thì lúa gạo lại là đặc sản. Với Yên Thành vùng lúa thì khoai sắn lại là của hiếm, là đặc sản. Thậm chí khoai còn được dùng làm phương tiện thanh toán, thường tính bằng mớ, bằng rổ, bằng gánh. Những người đi rú trong lúc mệt nhọc vẫn thường chọc ghẹo mấy cô sơn nữ bằng câu: “Trăng lên đến đỉnh mu rùa, cho anh đ. cái đến mùa trả khoai”. Trong trường hợp này, khoai còn là phương tiện đổi chác lấy những thứ mà người ta không mua bán được. Thế mới có chuyện củ khoai của Hồng Lục. Tên thật của anh là Hồng. Người đâu ở miệt trên Đồng Vằng, lấy o Lục ở xóm trên. Hình như nhà anh không còn người thân thích nên anh mới ở rể. Anh to khỏe, hiền lành, chỉ tội sức vóc lớn lại ở rể nên được bữa no lại là chuyện quý hiếm. O Lục có nghề phụ là đi chợ. Tiếng là chạy chợ nhưng chỉ bán nước chè xanh, mấy quả ổi, vài mớ trầu cau lặt vặt. Thế đã là một sự năng động lắm rồi. Hồi đó ai mua bán đều khép vào tội “con buôn”. Mà “con buôn” thì gắn liền với bóc lột, xấu xa vô cùng. Một hôm o Lục đi chợ, anh ở nhà một mình đói quá, nhìn xuống gậm giường thấy có mớ khoai. Sau khi đắn đo nhiều lần, anh đành liều, lấy 1 củ, mang xuống bếp nướng. Khoai chưa kịp chín thì o về. Anh biết bởi nghe tiếng con chó oăng oẳng ngoài cổng. Anh hoảng quá, đành khều củ khoai ra cho vội vào túi quần. Thật tội nghiệp, củ khoai nóng quá, nóng lan sang cả đùi khiến anh phải nhảy lò cò cho đỡ nóng. O Lục về thấy lạ hỏi: - Mần răng mà phải nhảy như rứa? Anh trả lời: - Mệ mi về, con chó hấn còn mừng nữa là tau! Sau này, khi đời sống khá giả, câu chuyện đó được anh kể ra như một kỷ niệm buồn của thời khoai sắn. 07/2009 3. THỊT LỢN NGON THẬT Đó là phát minh vĩ đại của ông Lý Cục. Tên thật của ông là Chu Văn Lịnh. Con gái đầu của ông tên Lý, nên người ta vẫn gọi ông là ông Lý. Ông làm nghề thợ mộc, trạc tuổi cha tôi, người to khỏe, lực lưỡng. Ông thường cởi trần để lộ một khối u sau bờ vai nên người ta gọi ông là Lý Cục. Ông được dân Hoa Thành nhắc đến nhiều bởi câu nói: Thịt lợn ngon thật! Cái chân lý mà ông Lý Cục phát minh ra là vào ngày 2/9/1965. Sở dĩ tôi nhớ chính xác ngày đó vì đó chính là ngày kỷ niệm 20 năm Quốc khánh. Hồi đó, hợp tác xã tổ chức cho bà con ăn Tết độc lập tập trung ở sân kho hợp tác xã. Cùng với việc dựng rạp, nấu nướng linh đình là việc giết lợn tập trung, các gia đình xã viên kéo ông bà con cái ra đó để ăn tập thể. Cánh ông Lý cùng với nhiều trai tráng khác chịu trách nhiệm giết lợn, nấu nướng. Khi tảng thịt được vớt từ nồi nước luộc ra, ông Lý Cục thái thịt, bày ra đĩa. Dường như không kiềm chế được sự cám dỗ của thịt lợn nóng sốt, ông đã bốc một miếng cho vào miệng rồi xuýt xoa: Thịt lợn ngon thật! Giờ ngẫm lại, câu nói đó chẳng có gì đáng nhớ, chẳng có gì mới và chẳng văn chương tẹo nào. Nhưng với thời đó là cả một sự phát minh, có thể so sánh với việc Newton nhìn quả táo rơi mà phát hiện ra lực hút của trái đất, Archiméde nằm trong bồn tắm mà phát hiện ra định luật về sức đẩy của nước. Thực ra thì thịt lợn là một món ăn bình dân. Đó là quan điểm phổ biến hiện nay. Ít ai biết rằng, cách đây không lâu, thời chúng tôi còn thơ ấu, thịt lợn lại là một phạm trù kinh tế, gắn liền với ước mơ cháy bỏng của phần lớn dân chúng sống trong những quy định hà khắc một thời. Sự cháy bỏng của ước mơ không phải là do sự thấp kém của thẩm mỹ, hay sự thấp kém của văn hóa mà là sự thấp kém của đời sống. Trước một nhu cầu rất chính đáng là phải sống, phải tồn tại, phải chống lại sự suy kiệt của giống nòi, thịt lợn được coi là phương tiện, được coi là nguồn dinh dưỡng quý hiếm cứu vãn sự suy kiệt ấy. Vùng nông thôn như Hoa Thành, hồi đó nhà nào cũng nuôi lợn, thế nhưng không ai phát hiện ra thịt lợn ngon. Giờ nói ra nhiều người cho là bịa, nhưng ai đã sống qua lúc đó mới thấy đó là chuyện của một thời. Lý do đơn giản, nông dân nuôi lợn, nhưng không được giết thịt. Nuôi được bao nhiêu, phải cân đủ nghĩa vụ cho nhà nước, sau đó mới được thịt. Mà cân cho nhà nước thường được nhà nước tính giá theo cách của họ. Theo đó, một con lợn mang bán cho nhà nước, mang tiền về ra chợ chỉ mua được vài con gà hoặc một bộ quần áo đẹp. Thế nhưng nông dân vẫn phải nuôi. Nghề nông không nuôi lợn thì không có phân bón ruộng. Thêm vào đó, nuôi lợn là cách thức để tận dụng rau cỏ trong vườn, cùng với đó là cám tận thu từ việc xát thóc. Do giá lợn nhà nước thu mua quá rẻ, nên dân không hào hứng lắm với việc nuôi lợn. Nuôi chỉ để vừa đủ nghĩa vụ với nhà nước. Vì lý do đó nên thịt lợn đã trở thành một phạm trù riêng có của giới công chức và dân cư đô thị, còn với nông dân, thịt lợn đã trở thành một phạm trù xa xỉ ngoài tầm mong muốn của họ. Chính xác hơn thì thỉnh thoảng vào dịp Tết, người dân vẫn có thịt lợn theo chế độ của hợp tác xã, nhưng thường không được ăn nóng sốt. Đơn giản là, sau khi luộc chín, thịt lợn được bày ra đĩa, đặt lên bàn thờ tổ tiên, sau khi khấn vái xong, chờ cháy tàn hương xong mới được bê xuống, thái bày ra đĩa, lúc đó, việc thưởng thức món thịt lợn sẽ không tạo cảm giác thăng hoa như trường hợp của ông Lý Cục đã phát minh. Một số gia đình có thế lực hoặc khá giả cũng chạy vạy mua được vài ba cân thịt lợn trong mậu dịch (thường phải có giấy giới thiệu của chính quyền) làm cỗ trong lúc có công to việc lớn. Nhưng phần nhiều là thứ thịt “ đầu thừa, đuôi thẹo” đã bị ôi thiu. Khi tiệc tùng, phần lớn thức ăn đã nguội lạnh nên không có được cái cảm giác ngất ngây như ông Lý! Ông Lý Cục là thợ mộc giỏi, quanh năm làm không hết việc. Ai làm nhà hay sửa chữa gì đó liên quan đến nghề mộc đều gọi đến ông. Chưa hết nhà này đã có nhà khác mời. Thế nhưng ông vẫn nghèo. Thời đó nó vậy, tiền công thời đó chẳng được bao nhiêu. Gia đình ông lại đông con. Giờ đây, phát minh “Thịt lợn ngon thật” của ông dễ bị chìm vào quên lãng, nhưng với lứa chúng tôi thời đó, nhiều ngày tháng sau này, nhất là những lúc khốn khó thời sinh viên, mỗi lần nhớ lại câu nói đó vẫn thường ứa nước miếng!
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Trường ca Trường Sơn, trường ca của lớp lớp con người
- Refresh cuộc đời của Phan Thế Hải
- Truyện ngắn CÀ PHÊ YÊU DẤU
- TRẦN VÀNG SAO và Bài thơ của một người yêu nước mình
- Nước mắt người điên
- Bút pháp của ham muốn và sự ham muốn bút pháp
- Kỷ niệm với nhà thơ Quang Dũng
- Nguyễn Nhật Ánh: Anh Bồ Câu đa tài
- Trần Anh Thái với thi pháp của lửa
- Phong Điệp, một phong cách sáng tác hiện đại












