
Cố Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn
Tôi nhớ rất rõ, nhớ đến từng cọng rơm vương vãi trên sân kho một hợp tác xã nông nghiệp giữa cánh đồng tam thiên mẫu thuộc tỉnh Hưng Yên. Đó là nơi sinh viên khoa ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội chúng tôi làm lễ khai giảng năm học 1968 – 1969, một lễ khai giảng sang trọng nhất trong đời tôi, khai giảng có bắn súng. Tiếng súng vút lên từ hàng quân danh dự của đội sinh viên tự vệ, đánh thức một ngày vệ quốc thời chiến tranh chống Mỹ, tiếng súng vang xa hơn theo lời thơ ứng tác của thầy chủ nhiệm khoa Lê Trí Viễn, kiểu làm thơ của người kể chuyện cổ tích, biết đưa vào thơ những phi thường. Đã từ ít ra là hàng trăm năm trước, để khai giảng, người ta đánh trống, cách khai giảng của thầy tôi thì khác, như là khai khẩu, khai thân để rồi khai thiết bổng của thánh nhân làng Gióng:
Khai giảng năm nay có bắn súng
Tiếng súng nôn nao cả tấm lòng
Xin hứa: quyết làm viên đạn nhỏ
Khỏi nòng chỉ biết có xung phong.
Cổ tích tứ tuyệt này nằm lòng tôi từ ngày ấy để rồi tôi đọc thầm tự kể mỗi khi bắt đầu một việc khó. Để rồi ngân nga kể bằng nhịp điệu trước trăm người, nghìn người muốn làm viên đạn nhỏ như tôi. Cứ kể cho tới một tết thiếu nhi 1 tháng 6, chính viên đạn thơ kia dẫn tôi tới một khai tâm mới. Một bài thơ chính trị đến như bài thớ đánh giặc Mỹ trên kia vẫn có thể thành đồng dao dành cho trẻ nít, nếu bài thơ đó hay, nếu trên đời này vẫn còn người lớn biết cách đọc đồng dao phục vụ các tiên khách kim đồng. Đã là “viên đạn nhỏ” thì hẳn thơ này dành cho con nít rồi, dành cho những người ít tuổi hơn khẩu “súng” kia rất nhiều. Hiểu như thế thì trong thơ đã có chuyện. Đó là chuyện trên dưới một “lòng” để khẩu súng và viên đạn cùng làm thành một tia chớp mà vật lý gọi là đạn đạo. Đã xuất hiện chữ “đạo” thì ngần ngại gì mà không dạy cho con nít rằng, với cách “xung phong” nhất trí cao (để rồi trí viễn) thì có những lúc, chính đạn đạo biến thành nhân đạo để thực hiện lẽ phải trên đời. Kể thơ tới được chỗ này rồi thì xin hỏi, phải chăng đất nước ta có nhiều người biết kể cổ tích như Lê Trí Viễn cho nên những ngày kháng chiến ấy mới sinh ra thần đồng bi bô mà như sấm truyền đạo lý lâm thời: những năm băng đạn vàng như lúa đồng…*
Giữ lời hứa với thầy, và đồng thanh với sấm truyền, những sinh viên khoa văn sư phạm ngày ấy đã xung phong theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Từ cổng trường ĐHSP Hà Nội những viên đạn nhỏ Phạm Tiến Duật, Vương Trí Nhàn, Tô Hoàng, Lâm Quang Ngọc, Bùi Công Minh, Hoàng Dân, Vũ Đình Văn… và rất nhiều sinh viên văn khoa khác đã nhập ngũ. Họ là những chiến binh, chiến đấu thật sự và nhiều người đã hi sinh, nhưng họ còn là văn nhân, chính những người này đã học thầy Viễn mà kể chuyện để sử thi hóa cuộc chiến mà họ tình nguyện tham gia, biến những ngày tháng khốc liệt nhất, hào hùng nhất của dân tộc ta, thành văn, thành thơ. Có những học trò như thế, những người thầy, trong đó có thầy Lê Trí Viễn người kể chuyện cổ tích của chúng tôi, xứng đáng là tướng lĩnh của đội quân chữ nghĩa.
Người kể chuyện Lê Trí Viễn, tác giả của nhiều nghìn trang sách. Đọc sách thầy tôi mới hiểu, chữ nghĩa bao nhiêu cũng chưa đủ với một người thầy! Phải thêm tình nghĩa nữa.
Tôi được nghe kể hồi ấy, mới học xong cao đẳng tiểu học, chàng Viễn thư sinh đã phải rẽ ngang vào học một năm sư phạm rồi về Tiên Phước, Quảng Nam dạy trường quê, gõ đầu trẻ tiểu học. Lớp học lưng chừng đồi cao, đi mấy bước là đã vào rừng xanh. Nhớ bạn, tháng tháng anh giáo Viễn trích 6 đồng trong lương tháng 24 đồng của mình gửi ra Hà Nội cho bạn thơ Gia Ninh ăn học. Đó là cổ tích tình chứ gì nữa!
Tôi được nghe, trong một lớp tiểu học đất Quảng của thầy Viễn có anh học trò mà sau này thành nhà thơ Bùi Giáng. Chính lớp học trò ngày ấy kể tôi nghe, một lần thầy Viễn dạy đọc diễn cảm thơ Pháp, một học trò diễn cảm tuyệt tới mức được thầy ban… 11 điểm! Thang điểm của “nước mẹ” đại Pháp chỉ mười bậc, nấc thang thứ 11 ngạo ngược kia khiến anh giáo Viễn được mời ngay lên phòng hiệu trưởng để nhận khiển trách. Và thầy Viễn tự kiểm, biết làm sao khác, khi học trò giỏi hơn tôi! Có phải nhờ những cổ tích giáo học pháp kiểu này mà thầy Viễn có nhiều học trò là giáo chức, nhà thơ, nhà văn, hiệu trưởng đại học, tướng lĩnh, chính khách… có vị từng là nguyên thủ quốc gia.
Tôi được nghe kể hồi ấy, mới học xong cao đẳng tiểu học, chàng Viễn thư sinh đã phải rẽ ngang vào học một năm sư phạm rồi về Tiên Phước, Quảng Nam dạy trường quê, gõ đầu trẻ tiểu học. Lớp học lưng chừng đồi cao, đi mấy bước là đã vào rừng xanh. Nhớ bạn, tháng tháng anh giáo Viễn trích 6 đồng trong lương tháng 24 đồng của mình gửi ra Hà Nội cho bạn thơ Gia Ninh ăn học. Đó là cổ tích tình chứ gì nữa!
Đó là Lê Trí Viễn với bạn văn, còn với học trò, tôi xin kể chuyện của chính mình. Tôi làm việc trong tòa sọan một tờ báo của ngành giáo dục. Một hôm, thường trực báo, có bạn viết cần gặp, tôi ra phòng khách, bạn viết ấy chính là thầy Lê Trí Viễn. Thầy tới nộp bài cho trò, dẫn tôi vào một cổ tích ứng xử. Số là, tôi được toà soạn phân công tới nhà thầy đặt bài, tôi đã hẹn ngày tự trở lại lấy bài, vậy mà thầy gắng viết xong trước ngày hẹn rồi tự tay mình mang tới. Thầy chúng tôi là vậy, nghiêm khắc nhưng không bao giờ cậy quyền, không muốn phiền hà tới ai. Hôm ấy, tôi pha ấm trà mới mời thầy, thầy uống xong tách nước là đứng ngay dậy cáo từ "để anh còn làm việc".
Mới gần đây thôi, thầy cưỡi xe ôm, đội mưa tới đầu hẻm nhà tôi. Lại khom mình che mưa ôm một chồng sách vào nhà. Cả nhà giật mình trước món qùa qúa lớn, bộ tòan tập LÊ TRÍ VIỄN MỘT ĐỜI DẠY VĂN VIẾT VĂN gồm 7 cuốn khổ lớn, bìa cứng; giật mình trước cách tặng quà. Tặng cha, nhưng người ông Lê Trí Viễn gọi con trai lớn của tôi ra, đọc cho em nó, mẹ nó, cha nó nghe lời đề tặng thầy đã viết: “Với tình nghĩa thầy trò rồi anh em trong cõi học & cõi văn, thân gửi anh chút chữ nghĩa dấu vết một đời”. Lại bắt đầu (hay tiếp tục?) một cổ tích có tên rất mới là cõi học…
Trong cõi ấy, tôi là đứa học trò được nghe thầy kể chuyện từ tấm bé, đến lúc mình cũng kể chuyện thì tập sách mới của tôi – Những vẻ đẹp thơ, lại có lời tựa của thầy.
Thầy tôi, người kể cổ tích đã về cõi cổ tích sáng 3/2/2012 để lại thương nhớ cho hàng triệu người nghe.
Nhà thơ Trần Quốc Toàn
Nguồn: vanvn.net.
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Tôi sống cùng người, chết vì người”
- Nguyễn Huy Thiệp: “Phần lớn cuộc đời, tôi ở trong ánh sáng”
- Tô Hoài, mãi mãi không già
- Người lữ khách trên chuyến tàu đời
- Bùi Kim Anh và những chiếc mắc áo...
- Đỗ Doãn Phương: Làm thơ để trấn an mình trước hư vô.
- Trần Dần: Giải một bài toán văn chương
- Xuân Diệu và quê mẹ
- Nguyễn Xuân Khánh: 'Tôi gắng sống từ bi hỉ xả'
- Hai dòng tác Đông Tây đều muốn cuốn ông đi nhưng Trương Tửu còn lại













