Là một người làm công tác ngoại giao nhưng lại mang niềm đam mê văn chương, dịch giả - nhà thơ Lê Bá Thự đã được nhận nhiều giải thưởng văn học.
Ông từng gặt hái nhiều thành công trong dịch thuật các tác phẩm văn học Ba Lan, như: “Chú cá mập vàng tí hon”, “Tomek ở lục địa đen”, “Xin cạch đàn ông”, “Chuyện tình của Kamionka”, “Truyện ngắn Ba Lan chọn lọc”... Ông còn “nổi danh” bởi tập thơ “Hoa dẻ”. Trong thơ ông, ta thấy luôn ẩn hiện sự khắc khoải nỗi nhớ quê nhà.
P.V: Ông có thể kể một vài kỷ niệm về tuổi thơ của mình?
Dịch giả - nhà thơ (DG- NT) Lê Bá Thự: Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Nguyệt Lãng, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa. Tôi được kết nạp Đảng khi đang học lớp 10 Trường cấp III Lam Sơn. Tốt nghiệp đại học tại Ba Lan, nguyên là Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, nay đã về hưu. Mặc dù xa quê rất sớm, nhưng những kỷ niệm mộc mạc, êm đềm, tươi đẹp của tuổi thơ luôn nâng đỡ tôi trong mỗi bước đường đời. Tôi nhớ nhất vào những ngày mùa đông rét mướt, tôi thường theo mẹ ra đồng nhổ mạ, khi mẹ xuống đồng cấy, tôi tranh thủ tát mấy khoanh ruộng trũng để bắt cá rô. Những chú cá rô mùa đông béo vàng, nằm im dưới gốc rạ hoặc trong vũng nước sâu để tránh rét, tôi chỉ việc đưa tay thật khẽ và chít lấy những cái đầu rồi cho từng chú chui tọt vào giỏ. Về nhà, mẹ tôi làm cá thật sạch rồi sai tôi ra vườn bứt mấy quả khế, mấy quả ớt, nắm rau ngổ, mấy củ nghệ, mấy lá gừng đem về rửa sạch, thái khúc, xóc đều vào nồi cá, nêm mắm muối, để chừng mười lăm phút cho cá ngấm gia vị rồi đun nhỏ lửa, cá vừa chín tới, thêm nước sôi cho ngập cá chừng một đốt ngón tay rồi tiếp tục đun. Phải đun thật lâu cho cá nhừ, chừng nào nồi cá bốc mùi thơm váng nhà, thì đánh một cái húi rơm khoanh quanh nồi, vẩy trấu lên trên cho nồi cá sôi liêu riêu thêm một lúc lâu, sao cho khi xúc cá ra đĩa để ăn, cá phải mềm nhũn đến từng cái xương, nồi cá vẫn còn sâm sấp nước cay, nóng, mỡ cá rô tráng một lớp váng vàng. Mẹ tôi thường bầy ra mâm một đĩa rau thơm với vài cái bánh đa cạnh đĩa cá bốc hơi. Bánh đa vừng mà kẹp rau thơm ăn với cá rô nóng, ninh mềm trong một ngày mùa đông giá rét, thì chẳng còn cao lương, mỹ vị nào bằng. Sau này khi các con tôi đã lớn, mỗi lần cả nhà về làng Nguyệt Lãng, bố con tôi vẫn xin bà nội nấu món cá rô đồng cho cả nhà ăn.
P.V: Từ những năm 1990, ông được đông đảo bạn đọc biết đến qua những bản dịch tiếng Ba Lan với các truyện ngắn “Chú cá mập vàng tí hon”, “Tomek ở lục địa đen”... Gần đây ông quan tâm nhiều đến mảng đề tài viết về thân phận những người phụ nữ như “Xin cạch đàn ông”, “Hoang thai”, “Nàng thứ ba”... dường như có điều gì ông muốn gửi gắm ở đây?
DG - NT Lê Bá Thự: Đúng vậy, thân phận những người phụ nữ ở đất nước nào cũng luôn gắn với văn hóa, lịch sử của đất nước đó. Mỗi tác phẩm của các tác giả Ba Lan viết về phụ nữ mà tôi đã dịch, đều có hình bóng của ba người phụ nữ có vị trí quan trọng trong cuộc đời của tôi. Người thứ nhất là mẹ tôi. Tuy người không được học nhiều nhưng tình yêu và lòng nhân hậu của bà đã dành cho không chỉ các con, cháu của bà mà cả bà con họ hàng, làng xóm. Lúc nào mẹ tôi cũng sống vì người khác, cho đến khi tóc trên đầu tôi đã bạc, mỗi lần các em gái ra Hà Nội thăm tôi, mẹ tôi còn dặn: “Các con ra gặp anh, bảo nó không phải lo nhiều cho mẹ, mẹ còn khỏe. Trứng gà so mẹ gửi ra đấy, mỗi buổi tối làm việc khuya chịu khó luộc vài quả mà ăn lấy sức, đừng thức khuya quá, nhớ tê chân thì cứ xoa vào gan bàn chân bằng rượu địa liền mẹ ngâm gửi ra bữa trước, sẽ đỡ...”. Người thứ hai là vợ tôi đã sinh cho tôi hai đứa con trai và dạy dỗ chúng chu đáo. Người thứ ba là cô gái mà tôi thầm yêu từ thuở học trò. Mặc dù năm tháng đã làm phôi pha bao nhiêu kỷ niệm, mỗi người đã có một số phận khác nhau, nhưng tình yêu thuở ban đầu và những hình ảnh trong sáng về cô ấy cho đến bây giờ tôi vẫn còn trân trọng.
P.V: Phải chăng bài thơ “Hoa dẻ” đã được nhạc sĩ Nguyễn Tiến phổ nhạc, ca sĩ Quang Linh trình bày, đồng thời cũng là tựa đề cho một tập thơ, ông muốn nhắc lại mối tình này?
DG- NT Lê Bá Thự: Đôi khi nhà thơ phải biết đồng nhất tình yêu quê hương với một nguyên mẫu cụ thể. Tôi đã đồng nhất tình yêu, nỗi khắc khoải của tôi với làng Nguyệt Lãng qua hình ảnh của mẹ mình và người con gái năm xưa. Tôi nhớ nhất mùa hoa dẻ nở vàng bờ dậu. Có một lần tôi thức trắng cả đêm, sáng sớm hôm sau ra vườn hái một chùm hoa dẻ vàng thơm ngào ngạt, kẹp vào quyển vở, chờ khi tan học, đến một đoạn đường vắng, tôi lấy “quyết tâm” từ phía sau đi lên ngang chỗ cô ấy, vừa đi tôi vừa lấy từ cặp sách chùm hoa dẻ tặng cho cô ấy và thổ lộ tình yêu của mình... Năm tháng qua đi, bài thơ “Hoa dẻ” ra đời trong một buổi trưa hè Hà Nội. Mặc dù không gian thay đổi, thời gian lùi xa hàng mấy chục năm, nhưng kỷ niệm xưa vẫn tươi nguyên hiện ra trong trí nhớ và tôi đã “chớp lấy” cảm xúc, để viết nên bài thơ này. Bài thơ có đoạn:
“...Sắc vàng hoa đưa hương
Tôi hái hoa tặng nàng
Nàng cài hoa lên tóc thề
Nàng đẹp tôi ngỡ ngàng
Ơ... giữa nắng hè chói chang
Nghe ai hát dịu dàng
Quê mình nhiều hoa dẻ ngát
Nên chúng mình thương nhau
Dù đi đâu người ơi...
Nhớ về mùa hoa dẻ quê nghèo
Nay chẳng đi chăn trâu
Nay chẳng mặc áo nâu
Về quê tìm hoa dẻ
Hoa vẫn ngát hương vườn nhà
Bóng người không thấy đâu”.
P.V: Trong cuộc sống, tình bạn cũng rất quan trọng. Vậy những người bạn thuở ấy thì sao?
DG - NT Lê Bá Thự: Tôi có nhiều bạn thân từ hồi còn đi học, đến nay gặp lại vẫn quý mến nhau. Trong số bạn thân của tôi có nhà thơ Văn Đắc, chúng tôi thân với nhau từ ngày còn học ở Trường cấp III Lam Sơn, cả hai chúng tôi đều là học sinh giỏi Văn của trường. “Văn Đắc” là bút danh của bạn tôi sau này. Khi biết bạn nổi danh trên văn đàn Việt Nam với bút danh là Văn Đắc, tôi vừa tự hào về bạn mình vừa âm thầm “thi đua lao động” để thực hiện khẩu hiệu ngày xưa “đôi bạn cùng tiến”. Bây giờ mỗi lần gặp nhau, chúng tôi vẫn “xoắn xít” lấy nhau “mày mày, tao tao” để “ôn nghèo, kể khổ”.
P.V: Những dự định mà ông đang ấp ủ trong thời gian tới?
DG - NT Lê Bá Thự: Tôi vẫn tiếp tục con đường văn học dịch thuật thông qua những tác phẩm văn học chọn lọc của các tác giả Ba Lan. Trong thời gian tới, tôi muốn tham gia dịch một số tác phẩm văn học của Việt Nam sang tiếng Ba Lan, nhằm góp phần để người Ba Lan hiểu thêm về văn hóa và con người Việt Nam. Và, sáng tác thơ vẫn là niềm say mê thứ hai sau công tác dịch thuật của tôi.
P.V: Ông có hay về làng Nguyệt Lãng? Cảm nhận của ông về sự đổi mới của quê hương hôm nay...
DG - NT Lê Bá Thự: Tôi vẫn một năm mấy lần về thăm mẹ, thăm quê. Cuộc sống nông thôn bây giờ đã thay đổi rất nhiều. Đời sống mọi mặt được nâng cao. Làng đã thế, tỉnh càng thay đổi nhiều hơn. Là vùng đất “tam vua, nhị chúa”, biển, rừng, trung du, đồng bằng đều có cả. Nhiều danh lam thắng cảnh độc nhất vô nhị như Thành nhà Hồ, Suối cá Cẩm Lương... Lại có “Tứ sơn” đang “vận hành” với nhiều dự án tầm cỡ quốc gia và khu vực. Đặc biệt nhân tài quê Thanh đang sinh sống và làm việc ở các vùng, miền trên cả nước không ít. Nếu tỉnh ta tăng cường hơn nữa các chính sách thu hút nhân tài trẻ về công tác và cống hiến tại quê hương như cách làm của Đà Nẵng, Vĩnh Phúc... thì tới đây chúng ta sẽ phát triển rất mạnh mẽ và vững chắc.
P.V: Xin cảm ơn ông!
P.V
Nguồn: baothanhhoa.vn.
Set as favorite
Bookmark
Gửi bài viết cho bạn bè
Lượt xem: 706
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
Bài viết mới cập nhật:
- Nhà thơ Tạ Hữu Yên: 'Ong thợ' tuổi tám tư
- Nhà thơ Võ Văn Trực: Khâu bền sợi đau
- Y Ban ‘giờ chỉ xem phim sến, đọc truyện lãng mạn’
- Vài nét về Giáo sư Phan Cự Đệ
- KIM LÂN - Nụ cười còn vương trên thế gian
Bài viết đã đăng:
- Tô Hoài, người sinh ra để viết
- Đặng Thiều Quang: Viết sex cần kỹ năng và trải nghiệm
- Phạm Tiến Duật – Người thơ say miền đất lạ
- Khi nhà văn Đỗ Chu sắm vai nhà thơ trẻ
- Vài nét về Phương Lựu












