
Ông tên là Gioáng phải không?
Quoảng Noam - Đòa Noẽng chánh tông tộc Buồi!
Phía trên là chiếc áo ka-ki, phía dưới là chiếc quần tây bạc màu. Vai đeo cái túi, đầu đội cái mũ nỉ, chân mang giày nghiêm chỉnh. Khuôn mặt mới đáng nói. Mắt mang đôi mắt kiếng, gọng bên phải còn nhưng gọng bên trái gãy mất, phải cột một sợi dây thun tròng qua phía sau ót. Sau mắt kiếng là một đôi mắt thật tròn, tinh quái, cái nhìn như xoáy vào người đối diện. Ông thường đến Báo Thanh Niên vào tháng 11 dương lịch. Ngày ấy, cơ quan báo còn một cây nhãn nhỏ. Ông ngồi dưới gốc nhãn, “tác chiến” thơ. Thơ ra ào ào, dồn dập; công lực có vẻ thâm hậu cực kỳ. Ấy là Bùi Giáng đại lão gia, tức Báng Giùi, tức Bùi Bàng Giúi tiên sinh đó vậy.
Nhiều người đã viết về nhà thơ Bùi Giáng. Viết thêm một bài về ông thì cũng không nhiều, không viết thêm một bài về ông thì cũng không phải vì thế mà ít đi. Thế nhưng, đa số những bài viết thường có khuynh hướng đưa ra mối quan hệ quen thân của tác giả với ông Bùi Giáng. Cho nên đáng lẽ phải nghiên cứu thi ca của ông như chính nó hiện có thì nhiều bài viết lại chỉ nhắm vào khía cạnh kể lại giai thoại và những mối quan hệ với ông. Mà than ôi, giai thoại và những mối quan hệ thì có thể có, cũng có thể không và cũng có thể có một mà nói tới mười.
Viết về ông Bùi Giáng thật sự rất khó. Chẳng vậy mà em ruột của ông là ông Bùi Luân đã từng viết thư thăm tôi và nói: “Tôi là em ruột Bùi Giáng và nay cũng đã 68 tuổi đầu. Xin anh đừng tiết lộ chi cả về việc tôi gởi tặng anh cuốn Chớp biển với Bùi Giáng anh nhé”. Thư viết năm 1998, đến nay đã là 12 năm. Khi ấy, còn là sinh thời ông Bùi Giáng. Tôi nhớ lời ông Luân dặn, không nói với ông Bùi Giáng và không viết về ông. Bây giờ, tôi xin được phép viết.
Viết rằng: Thuở ngoài đôi mươi, Bùi Giáng đã có vợ. Vợ ông là một cô gái Quảng Nam mới 19 tuổi, khá đẹp. Chị về làm dâu, được cha mẹ chồng cho hai vợ chồng ra riêng, ở một khu vườn xanh tươi thuộc làng Đại Bường (Trung Phước, nay thuộc huyện Nông Sơn, Quảng Nam). Không hiểu do đâu, chị qua đời sớm khiến Bùi Giáng rất đau đớn. Có thơ làm chứng như vầy:
Em chết bên bờ lúa,
Để lại trên lối mòn.
Một dấu chân bước của,
Một bàn chân bé con.
Anh qua trời cao nguyên,
Nhìn mây buồn bữa nọ.
Gió cuồng mưa khóc điên,
Trăng cuồng khuya trốn gió.
Mười năm sau xuống ruộng,
Đếm lại lúa bờ liền.
Máu trong mình mòn ruỗng,
Xương trong mình rả riêng…
Cái chết của người vợ trẻ đã tác động lớn đến tâm hồn nhà thơ. Ông gọi người vợ thân yêu của mình bằng cái ẩn ngữ thân thiết và nũng nịu: Con mọi nhỏ bên rừng Phi châu. Từ đó về sau, Bùi Giáng có thể yêu thương nhiều người phụ nữ khác, có thể say đắm nhiều tấm dung quang nguyệt thẹn hoa nhường khác nhưng không có ai được ông yêu bằng “con mọi nhỏ”:
Tháng năm, dòng nước trôi xa,
Người qua, người sẽ đi qua những người.
Tôi qua… không hẹn một lời,
Hẹn hò chi bấy, bước đời về đâu?
Tặng đời đóa đóa hoa sầu,
Nhớ nhau từ đóa mộng đầu rã đôi…
Than ôi, cái đóa mộng đầu - chữ dùng đầy hình tượng trong thơ Huy Cận: Chờ nhau dưới gốc sim già nhé/ Ta hái trao em đóa mộng đầu. Hắn đẹp cái chi mà đẹp ly kỳ, cổ quái. Hắn trong trắng, thơ mộng, hồn nhiên một cách lạ lùng và hoành tráng. Hắn chính là tình yêu, là chút rung động ban sơ thánh thiện trong một thoáng trái tim trẻ thơ bỗng bừng lên ngọn lửa tình yêu kỳ diệu. Khi Đóa mộng đầu rã đôi, thơ của Bùi Giáng lại hiện lên những ẩn ngữ khác lạ lùng hơn.
Mất đi đóa mộng đầu, đời đau điếng. Mất đi đóa mộng đầu, tim rát rạt. Người ta té ngửa, té nghiêng trên đời. Thơ như âm ba ngậm ngùi vỗ lên cuộc sống rong chơi đầu đường xó chợ. Thơ Bùi Giáng tràn ngập những ẩn ngữ như vầy:
Các em đầu đội vai mang,
Tiếng kêu rào rạt giang san ngậm ngùi.
Em từ tuổi nhỏ tươi vui,
Lớn dần lên thấy niềm vui tan tành.
Đầu đường xó chợ quẩn quanh,
Em nhìn phường phố thấy anh chạy quàng.
Thưa em, từ bữa lạc đường,
Người muôn, vạn, triệu ngập tràn chốn nơi.
Té lên, té xuống, té ngồi.
Té nằm duỗi dọc dưới trời giằng co…
Ảo tưởng về người ngọc (ngọc nhân) ám ảnh tâm hồn Bùi Giáng. Đó không phải là một con người cụ thể, đó là một hình tượng, vừa quen mà cũng vừa lạ. Người đi mất tiêu rồi. Nếu có một ngày người trở lại bến sông xưa tắm rửa chút đỉnh, tẩy trần cho thể xác và tâm hồn thì hình ảnh lại khác. Nó bắt đầu có vẻ thân xác một chút, một chút thôi:
Những nàng tiên nữ ở trên cao,
Thả xuống cho ta những trái đào.
Bùi Giáng thật hạnh phúc, được tiên nữ cho những trái đào. Văn Cao ngày trước chỉ khao khát: Thiên Thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào tiên. Cả Lưu Thần và Nguyễn Triệu chỉ được mỗi cha một trái đào. Bùi Giáng được tới những trái đào. Tôi cứ nghĩ miết, không hiểu loại đào này là đào gì, đào tiên hay đào người bằng da bằng thịt?
Thơ ca Bùi tiên sinh bắt đầu quẩn quanh qua chữ sex. Phòng trung thuật, Hoàng đế Tố vấn nội kinh của Trung Quốc và Kama Sutra của Ấn Độ đã chẳng quẩn quanh chữ ấy là gì. Thế nhưng, chữ sex trong thơ của Bùi Giáng thì thơ mộng hơn, khiêm tốn hơn, ngây thơ hơn và thánh thiện hơn.
Em về, giũ mộng phù sa,
Vén quần phong nhụy cho tà áo bay.
Vừa vén quần mà tà áo lại bay lên nữa thì nghe cũng hơi khêu gợi. Thế nhưng đó là cảnh bên ngoài, người ta nhìn thấy được. Cái ẩn ngữ bên trong thơ Bùi Giáng mới là thái thậm lăng tằng, đìu hiu rất mực. Có thơ làm chứng như vầy:
Bây giờ, em ở nơi đâu,
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?
Hết cỏ, Bùi Giáng lại nhắc đến “cái nhu mì” nơi người phụ nữ. Tôi nghĩ bể óc cũng không hiểu sự vụ nhu mì đó là cái giống gì.
Em đi, lặng lẽ em đi,
Anh về nhớ cái nhu mì của em.
Trong hai chục năm cuối đời, Bùi thi sĩ của chúng ta oai hùng hơn. Ông bắt đầu sự nghiệp… nói lái trong thơ. Ông dùng một hệ thống ẩn ngữ rất mực chịu chơi, vô cùng khủng khiếp để nói về chuyện nhu mì với nhu bún. Có thơ làm chứng như vầy:
Làm con gấu, con beo, con bò rừng, con hổ.
Làm con chồn lùi lũi chạy vào hang.
Ai hiểu cái chi thì hiểu, hiểu cũng tốt mà không hiểu cũng không ai trách.
Gọi người bỏ lách lau thôn,
Kêu người dứt cỏ lìa cồn cổ kim.
Trình độ nói lái của ông đạt đến mức cổ kim hiếm thấy, thái thậm lăng tằng. Ẩn ngữ đi qua những ngõ ngách, những hẻm hóc kỳ khôi và dị hụ:
Cái lời tồn dập thong dong,
Ở trong cái tiếng sầu đong lấp đầy.
Ông trời rất mực thơ ngây,
Bà trời rất mực dằng dai liên tồn.
Trâu đi đứng gót lùi chồn,
Chắc rằng tâm sự linh hồn đìu hiu.
Ông giỡn với ngôn từ. Trời đất ơi, ông sáng tạo ra thứ ngôn ngữ thật đặc biệt. Trong bách tính chỉ có họ Bùi. Bùi Giáng giỡn, thêm vào chữ Bùi một chữ Ô, sáng tạo ra một chữ Buồi làm ngữ nghĩa đảo điên, mơ màng, chộn rộn.
Ông tên là Gioáng phải không?
Quoảng Noam - Đòa Noẽng chánh tông tộc Buồi!
Nói xong, bèn phá ra cười,
Còn tôi hừng chí cũng cười reo theo.
Cứ thế, thi ca Bùi Giáng tràn ngập những ẩn ngữ. Ai đọc ông thế nào, cảm nhận thơ ông ra sao là việc của họ.
Sigmund Freud và trường phái tâm phân học cho rằng khi những khuynh hướng bị cản trở, con người sinh ra ẩn ức. Những ẩn ức đó có thể bộc lộ qua các sáng tác văn học nghệ thuật. Nó cao hay thấp, mập hay gầy, đầy hay lép là do tài hoa của người sáng tạo. Nó chính là sự phát tiết tâm tình, tư duy, khát vọng của con người mần ra nó. Có thể coi hệ thống ẩn ngữ trong thơ Bùi Giáng nằm trong khái niệm phát tiết ấy chăng?.
Nguồn: Thanh niên
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Y Ban: Bốp chát & nữ tính
- Nguyễn Tuân - người lữ hành không mệt mỏi của tiếng Việt, hồn Việt
- Nguyễn Thi: Im lặng mà tỏa sáng
- Nhà thơ Thanh Tịnh: Người bộ hành cô đơn
- Nhà thơ Pờ Sảo Mìn: Cây già trên núi đá Mường Khương
- Nhà thơ Nguyễn Duy: "Thơ bỏ tôi đi"
- Nhà văn Trung Trung Đỉnh: "Khổ sai" cùng chữ nghĩa
- Nhà văn Thạch Lam: Mạnh hơn cái chết
- Ông ngoại tôi - nhà văn Nguyên Hồng
- Tô Hoài - 90 tuổi vẫn rung rinh nụ cười tinh nghịch












