Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến người bạn bên Nga với Nguyễn Huy Hoàng làm MC với cung bậc bổng trầm và hấp dẫn. Nhiều bạn bè, bạn đọc đã nói lên cái hay, cái tình của thơ Nguyễn Huy Hoàng. Anh đang sinh sống tại Nga nhưng thơ anh vẫn thuần Việt.
Đêm ra mắt tập thơ đã được Hội VHNT VN tại LB Nga và Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây phối hợp thực hiện”.
Trần Nhương
Đôi lời cùng bạn đọc của tác giả 'Giữa thanh thiên bạch nhật'
Tác giả Nguyễn Huy Hoàng
Trong một lần về nước, tôi ghé thăm nhà anh bạn đồng niên, giờ đây đã là một thương nhân khả kính. Trên giá sách sang trọng của anh xếp la liệt những quyễn sách dày cộp đủ các chuyên ngành, và trong số đó có những quyển sách khiêm nhường của tôi in trong các thời kỳ khác nhau. Tôi không khỏi không cảm thấy chút hạnh phúc và niềm xúc động, biết ơn thật lòng.
|
Nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng sinh năm 1953, quê ở Hà Tĩnh, hiện sống và làm việc tại Matxcơva, Liên bang Nga.Tác phẩm đã in: - Ngoảnh lại (thơ) NXB Văn học - Dư âm (Thơ) NXB Văn học - Phía bên kia trời (Thơ) NXB Văn học - Miền yêu thương (Thơ) NXB Văn học - Đa mang (Thơ) NXB Hội nhà văn - Matxcơva thời mở cửa (Truyện kí) NXB Văn hóa - Thi pháp truyện ngắn Gogon (Chuyên luận) NXB Đại học quốc gia - Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX (Giáo trình) NXB Đại học tổng hợp - Vẫn còn có bao điều tốt đẹp (Thơ) NXB Văn học - Giữa thanh thiên bạch nhật (Thơ), NXB Văn học |
Nhân lúc bạn xuống bếp pha trà, tôi thận trọng rút ra khỏi giá những tập thơ của tôi được xếp hàng đều tăm tắp, điều đó như muốn nói lên rằng, chủ nhân là một người cẩn trọng và chu đáo.
Nhưng tôi lặng người đi, không thốt nên lời và một cảm giác xót xa dâng trào như một cơn đau tim đột ngột. Tất cả những quyển thơ và truyện ngắn của tôi đều mới và nguyên vẹn, chủ nhân chưa hề đọc lấy một trang!
Tôi lặng lẽ rời khỏi nhà vị thương nhân với một tâm trạng đau đớn chẳng khác gì một người bị đánh đòn hội chợ; thương cho công sức, nước mắt mồ hôi và những đứa con tinh thần của mình.
Tôi tự an ủi mình rằng, đối với một bộ phận công chúng đang được gọi là tầng lớp tinh hoa bây giờ, văn chương không phải là mối quan tâm của họ. Những quyển sách dày đặc những chữ là chữ, bìa da, gáy nhũ vàng, chắc cũng không hề được chủ nhân đụng đến, huống hồ là mấy tập thơ mỏng mảnh của tôi. Nó còn vinh hạnh được bày lên giá, không bị đem ra hàng giấy vụn cũng là một sự may mắn lắm rồi!
Niềm đam mê tột bậc của những tín đồ ham danh vọng, của các bậc thức giả thời thượng là các thú giải trí, karaoke, nhà hàng và chiếu bạc. Khi sự thực dụng lên ngôi, những thước đo giá trị thay đổi, khi văn hóa vỉa hè nghe, nhìn lấn lướt, thì sự dửng dưng với văn hóa đọc là một lẽ đương nhiên.
Thế mà có lần, bạn thơ của tôi là Châu Hồng Thủy kể cho tôi nghe câu chuyện khác thường về một chị Nghiên cứu sinh ngành Tâm lý ở Viện Hàn lâm Nga đi bán hàng ngoài giờ để cải thiện, bù vào đồng lương còm cõi của mình. Những người mua hàng của chị luôn đặt ra một yêu cầu là họ chỉ trả tiền khi chị đọc cho họ nghe một bài thơ nào đấy của tôi viết về người Việt ở Nga. Thoạt đầu, tôi không tin, cho rằng anh bạn thơ hoặc là động viên tôi, hoặc là lấy câu chuyện buổi sáng làm quà. Lần qua Ký túc xá Viện Hàn lâm ở Matxcơva, tôi tình cờ được gặp người trong câu chuyện. Đó là một phụ nữ gầy yếu, là Nghiên cứu sinh ngành Tâm lý sống lặng lẽ, khiêm tốn. Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi chị cho biết rằng, đã đọc thuộc lòng cả hai tập thơ đầu của tôi mà chị mượn được, ngót nghét 140 bài, bằng tất cả lòng đam mê tự nguyện, không sót một câu nào. Tôi xin cúi đầu cảm tạ không chỉ mỗi chị, một tri âm, một người hâm mộ thi ca, một nhà khoa học, mà còn biết ơn cả những người mua hàng chỉ có vốn học vấn bình thường, những người đầu tắt, mặt tối ở xứ người mà vẫn dành cho văn chương một sự giao đãi quý giá.


Bìa sách do Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trình bày
Còn nữa, năm 2006 trên đường đi công tác qua Đà Nẵng, tôi ghé thăm gia đình người em trai. Khi tôi chuẩn bị ra đi, người em khẩn khoản yêu cầu tôi nán lại chút ít, vì có một người đặc biệt muốn gặp tôi. Vị khách đặc biệt đó là một cô gái đã 21 tuổi tàn tật, có một khuôn mặt thiên thần, đi tăcxi đến cùng với mẹ. Cô hầu như không đi lại được, phải chống nạng vận động một cách khó khăn. Không thể đến trường được, hồi nhỏ, cô học chữ với một bà xơ trong nhà thờ. Hai mẹ con tìm đến gặp để cảm ơn tôi vì tập thơ “Ngoảnh lại” đầy nỗi niềm đã mang đến cho cô lòng yêu văn chương và giúp cô chiêm nghiệm cuộc đời. Để chứng minh rằng, cô thuộc lòng toàn bộ tập thơ, cô đã đọc rành rọt cho tôi 5 bài tôi tự yêu cầu. Tôi xúc động đến rơi nước mắt.
Và vừa rồi, vào dịp giáp Tết 2009, tôi và dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền sang châu Âu tham dự một vài hoạt động của cộng đồng người Việt. Tại Praha, chị Kim Hiền quá đỗi ngạc nhiên khi được tiếp xúc với một kỹ sư cơ khí đáng kính có tuổi, nhiều năm quảng bá những tập thơ của tôi ở Cộng hòa Sec, đã thuộc lòng hầu hết những bài thơ tôi viết từ những ngày chưa in thành tập.
Còn nhiều độc giả như vậy nữa, tôi còn lưu giữ những bức thư của họ viết cho tôi từ nhiều miền đất nước và nhiều quốc gia, bày tỏ sự cảm mến và ý nghĩa của thi ca đối với cuộc đời của họ. Những độc giả yêu quý đó của tôi, thường là những mảnh đời đầy truân chuyên và sóng gió. Tôi xin quỳ xuống trước họ, trước những con chiên chân chính của thánh đường văn học, những người đã đem đến, đã ban cho tôi, người cầm bút niềm hạnh phúc đích thực. Vì những con người này, vì những độc giả này, buộc tôi phải cầm bút. Tôi phải gạt sang bên những khó khăn cơm áo thường ngày, bỏ qua những cơ hội làm ăn, những vận may thăng tiến, chấp nhận những thiệt thòi vật chất, thậm chí cả những gánh nặng nghiệp chướng văn chương trút xuống số phận, để làm thơ. Tôi đến với thi ca, chung thủy với thi ca như là một như một sự hy sinh theo đúng nghĩa của nó. Nhưng sự hy sinh đó không phải là vô ích, tôi đã được đền bù.
Đầu thế kỷ XIX, khi phong trào cách mạng quý tộc ở Nga khởi phát, bùng nổ và ngay sau đó bị đàn áp một cách khốc liệt, một dòng thơ mới do những nhà thơ tiến bộ khơi nguồn và phát triển, đáp ứng được những yêu cầu cháy bỏng trong một xã hội bị tước đoạt tự do, gọi là thơ Công dân. Sứ mệnh của thơ Công dân Nga là cổ xúy cho những tư tưởng cấp tiến của thời đại, ngợi ca lòng yêu nước thương nòi, đòi ánh sáng cho một xã hội chìm đắm trong màn đêm nô lệ. Thơ Công dân không phải là thơ chính trị, là sự diễn ca lại những phát ngôn của một cá nhân hay một tổ chức, mà nó là niềm hứng khởi trữ tình mang tính thời đại.
Sau nhiều năm nghiên cứu thân thế và văn nghiệp của những nhà thơ thuộc dòng Thơ Công dân Nga, càng ngày, tôi càng nhận ra rằng, nhà thơ chỉ là một kẻ ghép vần, rỗi hơi, vô vị, khi anh đứng ra ngoài số phận dân tộc. Người viết thơ sẽ không bao giờ trở thành nhà thơ khi anh vô cảm, lạnh lùng trước những nỗi thống khổ của nhân dân, đồng loại. Nếu không nhận chân được xu thế tích cực, dửng dưng trước tội ác, vào hùa với cái xấu, cái lỗi thời thì nhà thơ không phải là vô tình mà là cố ý quay lưng lại với nhân dân, ngáng trở xu thế tiến bộ của xã hội. Sẽ là bần tiện và hèn hạ biết bao khi nhà thơ trở thành kẻ quỵ lụy trước những cám dỗ vật chất và trở thành công cụ trong tay những kẻ hãnh tiến, bạo tàn.
Trong tập thơ này, tôi cố gắng nói lên được những điều mình cảm nhận, với mong muốn thể hiện thơ, người bạn đồng hành của những người thứ dân trong tâm tưởng. Dù nhiều năm xa cách, nhưng quê hương, đất nước và con người Việt Nam vẫn in đậm trong tôi như khắc, như chạm. Mỗi một biến cố, một sự kiện diễn ra hàng ngày của đất nước đều như những con sóng vỗ vào dải bờ vốn mong manh và yếu đuối của trái tim tôi. Và những dòng thơ của tôi được khơi nguồn từ những cơn sóng ấy.
Trong những tập trước, âm hưởng chủ đạo trong thơ tôi là những cảm xúc trữ tình với âm điệu phảng phất buồn. Trong một số bài viết, có nhà phê bình cho rằng, thơ tôi có phần ảm đạm, bi quan. Dù không đồng ý hoàn toàn, nhưng tôi không phủ nhận điều đó.
Nhưng trong tập “Giữa thanh thiên bạch nhật”, bên cạnh những phong cách trữ tình quen thuộc, có phần cố hữu, thơ tôi còn mang tính đa thanh, với chất trào lộng, hài hước- trữ tình; có những bài đã phá rào sang sân chính luận. Điều đó, không phải là do tôi muốn thế. Chủ đề, ý tưởng của bài thơ đã buộc tôi phải chọn cách thể hiện phù hợp, nội dung đã quy định hình thức của nó. Có lẽ hình như đó cũng là một chút sở đoản của tôi.
Do tính cách có phần hạn chế của mình, trong đời, tôi khó hòa nhập được với sự hào nhoáng hả hê, với sự tung hô và những vẻ mặt bừng bừng mãn nguyện. Nhưng tôi dễ trải lòng trước những cảnh đời, những số phận bị vùi dập và nỗi lầm than. Cũng như vậy, thơ tôi hoàn toàn không mang tính quảng trường, không có những khẩu hiệu quyết liệt, những lời lẽ búa lớn, đao to, những lời răn dạy của các bậc, các đấng. Có lẽ đó là một nhược điểm, như người ta vẫn nói là quá yếu mềm, nhưng tôi bằng lòng và chấp nhận nó như là một dấu ấn riêng của mình. Và dường như thơ tôi thấm đẫm chất tính cách có phần u uẩn này.
Cũng như các tập thơ khác, tập thơ này tôi viết ở nước Nga, một dân tộc vĩ đại, nơi thiên nhiên muôn phần tươi đẹp; mảnh đất gắn với số phận của tôi, mang đến cho tôi nhiều kỷ niệm cay đắng và bất hạnh. Là người mến yêu văn học Nga từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chọn Văn học Nga để nghiên cứu và giảng dạy, tôi đã dày công tìm hiểu con người, xã hội và tính cách Nga. Tôi đã bỏ thời gian đi rất nhiều miền đất của nước Nga, đã gặp, đã kết bạn với nhiều người Nga các thế hệ, các đẳng cấp khác nhau. Thể chế nước Nga tuy thay đổi, nhưng nhân dân Nga vẫn nhân hậu; và thiên nhiên Nga thì vẫn tuyệt vời. Tôi đã dành những vần thơ tự đáy lòng để viết về nước Nga, quê hương thứ hai của tôi.
Tại nước Nga có một cộng đồng người Việt, một xã hội Việt Nam thu nhỏ, gần một phần ba thế kỷ qua bươn trải, mưu sinh. Họ có mặt tại đây là kết quả của mối tình hữu nghị Việt Xô và xu thế di cư của xã hội hiện đại. So với cộng đồng của những nước châu Âu, cộng đồng người Việt tại Nga là một cộng đồng lành mạnh, có mối gắn bó máu thịt với đất nước, quê hương. Trong văn xuôi, tôi cố phản ánh một bức tranh với nhiều gam màu, thể hiện sự đa dạng, tính thiếu ổn định, tạm bợ và nhiều nỗi trái ngang. Nhưng trong thơ, tôi thiên về thể hiện tâm trạng, tôi muốn bạn đọc hiểu về phần thẳm sâu trong trái tim những người con Việt xa xứ.
Trong một cộng đồng xấp xỉ một trăm ngàn người Việt, chỉ có tới dăm người sáng tác thơ, trong đó có vài người làm thơ chuyên nghiệp; tạm tính ra, cứ hai chục ngàn người, thì có một người tự nguyện vác cây thánh giá thi ca bất chấp búa rìu của nền kinh tế thị trường, nhận lấy về mình, trước hết là sự thiếu thốn, nghèo khó triền miên nơi quê người, đất khách.
Tôi cũ kỹ và hàn lâm thái quá về phong cách sáng tác, tôi không muốn tập thơ của mình thành một phòng thí nghiệm các loại thể thơ và các ngôn từ mới lạ. Tôi cân nhắc, chọn lọc những từ thuần Việt nhất, không muốn vô tình xúc phạm tới kho tàng tiếng Việt vốn trong sáng, tinh xảo của cha ông. Trong các tập thơ trước, mỗi tập, tôi chỉ viết độ dăm, bảy bài theo thể lục bát, nhưng trong tập “ Giữa thanh thiên bạch nhật” có khoảng một phần tư số bài viết theo thể cổ điển – dân gian này, tôi thấy dễ diễn đạt hơn. Số còn lại, tôi viết theo thể tự do. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến, vốn là một người thẩm thơ tinh tế, cho rằng, thể tự do, nhất là loại tám chữ, nó vừa có cái hào phóng, vừa có cái thâm trầm, tận dụng hết khả năng thể hiện của ngôn từ kim cổ. Tôi nhất trí cao với ý kiến này.
Tên gọi “Giữa thanh thiên bạch nhật” vừa nói lên không gian sáng tác, vừa nói lên lý tưởng thẩm mỹ của tập thơ. Nó là tên của một bài thơ, nhưng đồng thời cũng là nội dung quán xuyến của tất cả các bài trong tập. Những bài thơ trong tập được sắp xếp một cách ngẫu hứng, tự do, không tuân theo hệ thống chủ đề, địa điểm và thời gian sáng tác. Tập thơ hoàn toàn không rơi vào vòng tục lụy và không đứng trước một barie nào, cũng không có một sự ràng buộc của tha lực nào; ngoài barie văn hóa và sự ràng buộc của lương tâm.
Matxcơva, mùa thu 2009
TÁC GIẢ Nguyễn Huy Hoàng.
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Văn học cũng cần phải tự quảng bá
- Văn học Việt Nam chưa tiếp cận độc giả thế giới?
- Các hình thức tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết
- Bốn giờ ở Huế (Bài đã đăng trên Tiền Phong cuối tuần số 49 ra ngày 5-11/12/2009 với tên "Uống rượu với nhà văn Nguyễn Khoa Điềm"
- Giải thưởng của Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam:người Kinh nhận giải
- Nhà thơ Trần Đăng Khoa: 'Không làm được là Hội có lỗi'
- Tiểu thuyết sử thi hôm nay - Những nét tìm tòi đổi mới
- Tiểu thuyết Việt Nam: đang chuyển động không nhỏ
- Trùng bút danh - chuyện dở khóc dở cười
- "Tôi để lại không mang theo gì cả/Thật nhẹ nhàng, như gió, lúc ra đi"













