Có thể hình dung thể loại sử thi như một dòng sông được khởi nguồn từ miền núi cổ đại, nước nguồn trong vắt, nguyên thủy. Càng chảy về miền hiện tại, vì càng nhận được nhiều phù sa cuộc đời mà dòng nước vừa đổi chất vừa đổi màu, pha tạp hơn, đa sắc hơn và cũng giàu có hơn.
"Khoảng cách sử thi" trong tiểu thuyết của chúng ta sau 1945 về đề tài chiến tranh theo quy luật cứ ngày càng rút hẹp dần, dĩ nhiên nó không bao giờ bị phá vỡ hoàn toàn, tuy không còn nguyên khối nguyên chất nhưng chất sử thi vẫn chiếm vị trí chủ đạo. Những nét tìm tòi đổi mới của tiểu thuyết sử thi hôm nay chính là ở sự thu hẹp, rút ngắn của "khoảng cách sử thi" ấy.
Tiểu thuyết sử thi Việt Nam trước 1975 được viết dưới ánh sáng của cảm hứng anh hùng ca xứng đáng là một thể loại lực lưỡng trong ngôi nhà văn học cách mạng, với: Xung kích, Con trâu, Vùng mỏ, Xung đột, Đất nước đứng lên, Dấu chân người lính, Chiến sĩ, Vùng trời, Rừng U Minh, Mẫn và tôi, Đất Quảng... Tiểu thuyết sử thi hôm nay, ngoài cảm hứng anh hùng ca còn được chi phối bởi cảm hứng đời tư, mà cụ thể là các nhà tiểu thuyết rất có ý thức sử dụng chất liệu đời tư cá nhân làm cho tác phẩm gần với cuộc sống hơn, sinh động hơn. Lý giải điều này, theo chúng tôi cần căn cứ vào hai phương diện cơ bản là chủ thể nhà văn và đặc trưng thể loại. Xét ở mặt chủ thể, tác giả của tiểu thuyết về đề tài này phần lớn là những người trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng cuộc chiến đã lùi xa hơn 30 năm nên họ viết về chiến tranh hôm qua bằng cái nhìn, sự suy nghĩ và sự tác động bởi những đổi thay của hoàn cảnh lịch sử ở ngày hôm nay. Xét ở mặt thể loại thì tiểu thuyết về đề tài chiến tranh vẫn phải tuân theo những đặc trưng thể loại, mà đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết là yếu tố đời tư.
1. Các nhân vật chính diện của sử thi luôn là những anh hùng tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí, lòng dũng cảm, trí tuệ của cả một cộng đồng. Bên cạnh những phẩm chất sử thi vốn có, nhân vật người lính của tiểu thuyết hôm nay luôn được các nhà văn xây dựng gần với con người đời thường, có tốt có xấu, nhiều hay và cũng lắm dở. Trước hết là vấn đề lý lịch. Tiểu thuyết hôm nay như muốn "phản biện" lại vấn đề này với những lý lịch rất "có vấn đề" của các nhân vật lãnh đạo chỉ huy, như Lâm (Khúc bi tráng cuối cùng, 2004 - Chu Lai), là Hùng Phong (Những bức tường lửa, 2005 - Khuất Quang Thụy), là Ngoãn (Thượng Đức, 2005 - Nguyễn Bảo) ...
Ngoại hình các nhân vật người lính cũng rất "đời thường", luôn được xây dựng theo nguyên tắc mang đậm dấu ấn chiến tranh, trên hình hài họ như còn đang vương khói lửa chiến trường". Thủ trưởng Đoàn 33 là Hai Lù (Rừng thiêng nước trong, 2004 - Trần Văn Tuấn) là linh hồn của đơn vị nhưng lại có một ngoại hình "nhỏ con, ốm nhom ốm nhách chỉ hơn 40 ký", "có bàn chân đen đúa, thô kệch đầy những nốt sần và sẹo", "bàn tay bé nhỏ dài nhẳng", nói năng thì "rề rà giải thích lòng vòng" đôi khi triết lý thì lại "sơ sài , tối nghĩa". Cũng trong tiểu thuyết này nhà văn đã triệt để "giải sử thi" cả tên các nhân vật anh hùng sao cho thật quê mùa dân dã với Tư Túi, Tư Râu, Hai Lù, Ba Tánh, út Tửng... Nhân vật anh hùng Phạm Đọt (Bến đò xưa lặng lẽ , 2004 - Xuân Đức) - "con gấu xám Đường 9" mà lại là người "cử chỉ có phần thô tháp", nói năng thì "cục cằn", ăn mặc thì "lôi thôi". Nhân vật Hướng (Những bức tường lửa, 2005 - Khuất Quang Thụy) - một dũng sĩ nhưng sở hữu một ngoại hình đen đúa, gầy gò khẳng khiu vừa "điếc lòi tai" lại hay nói tục... Điều này đã nói lên tính chân thực của hoàn cảnh, chiến tranh là đói khát, là khoảng cách mong manh và đầy căng thẳng giữa cái sống và cái chết nên người lính không thể có một ngoại hình đẹp đẽ, phương phi cường tráng, không thể có một ngôn từ "có cánh" lịch sự, khuôn mẫu, đúng chuẩn mực... Qua ngoại hình nhân vật, dù thường được miêu tả ở ngôi thứ ba cũng cho người đọc có cảm giác người trần thuật là người trong cuộc hoặc ở vị thế rất gần với nhân vật.
Nhân vật người lính trong tiểu thuyết 1945-1975 hầu như không có tính xấu, thói xấu vì được miêu tả trong ánh hào quang chiến thắng, cũng do vậy mà cấu trúc nhân vật thường là đơn giản, một chiều, sơ lược. Chiến tranh không chỉ có chiến thắng mà còn có cả chiến bại. Tiểu thuyết hôm nay đã khắc phục hạn chế trên bằng cách đặt nhân vật vào giữa bối cảnh cuộc chiến. Sự khốc liệt của nó là một thứ "thuốc thử" để phơi bày cái hay dở của con người, rõ hơn cả ở các nhân vật lãnh đạo chỉ huy với căn bệnh chủ quan nóng vội duy ý chí. ở ngày hôm nay bạn đọc khó tưởng tượng được trong cái ngày chiến tranh ấy lại có cả một tập thể lãnh đạo chỉ huy trung đoàn, sư đoàn đã có những sai lầm hết sức nghiêm trọng, đơn giản, ấu trĩ, thiếu dân chủ vừa bộc lộ rõ một tầm nhìn chật hẹp, một ý thức cực đoan, phiến diện (Thượng Đức, Những bức tường lửa)...
2.Tiểu thuyết sử thi 1945-1975 rất "kỵ huý" việc miêu tả "bản năng gốc" của người chiến sĩ. Điều ấy hoàn toàn có lý vì đó là cái thời "nén tình riêng vì nghĩa lớn". Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng kỵ đó để đi sâu vào miền bản năng của người lính, để tìm hiểu những vẻ đẹp tình cảm riêng tư, những khát khao tình dục rất đời thường của con người. Đó là Đại tá - Tư lệnh phó quân đoàn Hoàng Đan "đánh giặc hết mình, nói tục hết cỡ" và "đối với đàn bà con gái thì tình cảm dạt dào lắm" (Thượng Đức), là San - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự trên đất bạn Lào (Xiêng Khoảng mù sương), dù đã có vợ con ở quê nhưng vẫn có tình cảm mặn nồng với một thiếu phụ người Lào (Seo Mảy), là Lâm (Khúc bi tráng cuối cùng), là quan hệ tình yêu tay ba: Hùng Phong - Đào - Thanh (Những bức tường lửa). Rồi những quan hệ nồng nàn của Nguyễn Quỳ - Thắm; Ngoãn - Hân (Thượng Đức)... Gần đây nhất, trong Sóng chìm (2007 - Đình Kính) đã xây dựng một nhân vật phụ nữ (Năm Hồng) mang đậm tính bản năng. Vì thương những người lính (cả ta cả ngụy) ra trận là đi vào chỗ chết mà Năm Hồng cho họ "biết mùi đời". Bản năng tình thương hay bản năng dục tính ở người phụ nữ này cái nào trội hơn?
Rồi hèn nhát, tham sống, sợ chết, tham tiền, háo sắc..., và có cả phản bội. Tội phản bội trong chiến tranh luôn dẫn đến những hậu quả khủng khiếp nên phải chịu hình phạt ở mức độ cao nhất, nhưng trong tiểu thuyết hôm nay, hình như vì một quan niệm nhân ái hơn với người từng là đồng đội mà các nhà tiểu thuyết thường mở cho các nhân vật một lối thoát nhẹ nhàng hơn như Hoán (Xiêng Khoảng mù sương) thì chạy sang đất Thái Lan; Bá (Thượng Đức) thì trốn vào rừng rồi mất tích. ở thời điểm gian nan, căng thẳng nhất, một phút hoang mang, một phút yếu mềm mà Ba Tánh (Rừng thiêng nước trong) đã chiêu hồi, nhưng ngay khi nhận ra "cái bẫy của bọn Phượng Hoàng"anh ta liền tìm đến cái chết để khỏi phải sống nhục nhã... Thậm chí thời chiến tranh cũng đã có cả sự cơ hội chính trị, mà tiêu biểu lại là một nhân vật nữ - nhân vật Ly (Rừng thiêng nước trong). Trong tiểu thuyết này Trần Văn Tuấn tìm hiểu sự khốc liệt của chiến tranh ở một phương diện mới - chiến tranh làm tha hoá con người. Trước đó phần nhiều các nhà văn nhìn chiến tranh như là một cái lò lửa tôi luyện con người cứng rắn hơn, bản lĩnh, ngoan cường hơn theo xu hướng tốt đẹp tích cực. Nhưng thực tế thì không hoàn toàn như vậy. Chiến tranh đã biến cô gái Ly hồn nhiên thành một người đàn bà sắt đá, đầy bản lĩnh và ham hố quyền lực. Nếu hình dung chiến tranh là một bi kịch lớn thì mỗi con người trong guồng quay của nó phải hứng chịu những bi kịch nhỏ với mức độ và màu sắc khác nhau.
Có thể gọi việc miêu tả những "mặt trái" trên là tính chất "giải sử thi"ở phương diện nhân vật người lính. Đây là một bước tiến mới tiếp cận gần hơn với bản chất của thực tế lịch sử đồng thơì khắc phục cái nhìn phiến diện một chiều chỉ miêu tả cái hay, cái tích cực, cái màu sáng mà không làm nổi rõ cái dở, cái tiêu cực, cái màu tối của những con người "quân ta" trong cuộc chiến cực kỳ khốc liệt. Điều này không hề hạ thấp hay coi thường những người lính từng xông pha khói lửa xả thân mình để giành độc lập tự do cho Tổ quốc mà là một cái nhìn trung thực hơn về chiến tranh, tố cáo, lên án chiến tranh phi nghĩa. Đồng thời nó làm cho bạn đọc hôm nay trân trọng hơn, t
ự hào hơn về chiến thắng vẻ vang mà chúng ta đã giành được vì trên chiến trường những người lính không chỉ phải vượt qua, phải chiến thắng sự tàn bạo, sự nham hiểm, sự khủng khiếp bởi vũ khí hiện đại, tối tân của kẻ thù mà còn phải vượt qua, phải chiến thắng sự dao động, hèn nhát, cơ hội, ích kỷ... có trong chính bản thân mình. Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay hấp dẫn bạn đọc cũng một phần là nhờ nó đi sâu khám phá những miền tối khuất ấy của con người.
3. Tiểu thuyết sử thi 1945 - 1975 thường miêu tả nhân vật kẻ thù theo bút pháp "hiện thực tàn nhẫn", điển hình cho một vài nét tính cách như tàn ác, hiểm độc... Nhân vật hiện lên theo một khuôn mẫu chung, đơn giản sơ lược, chưa có cá tính. Sau 1975 các nhà tiểu thuyết đã cố gắng khắc phục điểm yếu này mà tiêu biểu là Nguyễn Trọng Oánh với các bộ tiểu thuyết Đất trắng và Mây cuối chân trời. ở tiểu thuyết hôm nay, nhờ sự đổi mới trong việc cải tạo lại cấu trúc bên trong với một quan niệm nghệ thuật toàn diện hơn, miêu tả theo bút pháp "hiện thực tỉnh táo" nên nhân vật kẻ thù hiện ra có sức sống đa chiều phức tạp và có một đời sống riêng.
Nhân vật không chỉ là toàn cái xấu mà còn có những nét đẹp của con ngư¬ời: trung tá Nguyễn Quốc Hùng (Th¬ượng Đức), tướng Lê Minh Đảo (Xuân Lộc), thiếu tá Hồng Nhị (Ngày rất dài )..., Họ đều là những kẻ sống có lý t¬ưởng và tôn thờ lý tư¬ởng đến cùng nên tận tuỵ, mẫn cán trong nhiệm vụ, giàu lòng tự trọng, không sa đọa, trác táng... Theo chúng tôi, từ hình tượng này, các nhà tiểu thuyết hôm nay đã đặt ra một vấn đề mang ý nghĩa phổ quát: điều cơ bản nhất, quan trọng nhất trong việc giáo dục con người, nhất là giáo dục thế hệ trẻ là giáo dục lý tưởng. Lý tưởng luôn mang tính định hướng, định hướng đúng sẽ đi theo con đường đúng và ngược lại. Nhìn dưới góc độ ý nghĩa nghệ thuật, từ hình tượng nhân vật kẻ thù, ít nhất sẽ tạo những hiệu quả sau: Một là, góp phần tạo ra tình huống căng thẳng cho tiểu thuyết, kẻ thù không chỉ hèn yếu, manh động, tàn bạo, dốt nát... mà chúng còn là những con người có học thức, có trí tuệ, có bản lĩnh. Cho nên chiến thắng được kẻ thù chúng ta đã phải mạnh hơn hẳn chúng về mọi mặt. Theo lôgich thông thường thì chẳng vẻ vang gì nhiều khi chiến thắng một kẻ thù yếu ớt, ngu dốt... nhưng chúng ta đã đánh thắng một kẻ thù như vậy thì chiến thắng ấy càng phải được khẳng định. Hai là, đưa ra cái nhìn nhân ái, độ lượng hơn vì dù có là kẻ thù nhưng họ cũng vẫn là người Việt Nam cùng dòng máu Hồng Lạc. Các nhà tiểu thuyết hôm nay đã không quan niệm kẻ thù chỉ ở phương diện thú tính mà còn nhìn họ ở cả phần nhân tính. Điều ấy góp phần nới rộng thêm, làm sâu sắc thêm quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết hôm nay.
4. Tư duy trần thuật trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 là tư duy phân tuyến địch - ta rõ ràng. Nó ảnh hưởng rõ rệt của tư duy bổ đôi phân cực trong cổ tích. Vì thế trần thuật thường đi theo ngôi thứ ba, khách quan, biết hết, nó không thể đi sâu vào những diễn biến tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở của cá nhân, những biến cố bi kịch đời tư mà đặt hứng thú vào miêu tả hành động. Đối với tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay, có thể coi xu hướng trần thuật thiên về góc nhìn đời tư là một bước tiến so với giai đoạn trước đó. Từ góc nhìn này nhà tiểu thuyết đã đưa nhân vật về với đời thường tạo ra một sự dân chủ, bình đẳng đúng với bản chất thể loại của tiểu thuyết..
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh chỉ quan tâm kể về cái gì thì không tránh khỏi sự tẻ nhạt, đơn điệu, do vậy nó phải hướng tới những cách kể mới, chúng tôi thấy cách cảm thương hóa, tâm linh hóa lời kể là rất đáng chú ý, mà Bến đò xưa lặng lẽ là một chứng minh. Việc tạo ra nhiều điểm nhìn và luân phiên thay đổi, dịch chuyển điểm nhìn trong trần thuật đã làm cho vấn đề sâu sắc hơn. Lời văn tiểu thuyết sử thi 1945 -1975 thường mượt mà êm đềm và yên tĩnh vì không có sự tranh biện phản bác giữa lời người trần thuật và lời nhân vật, giữa địa vị nhân vật với tính cách, ngôn ngữ nhân vật. Tất cả như đồng hướng để châu tuần về ngọn cờ sử thi. Tiểu thuyết hôm nay không vậy, lời văn của nó đầy sự tranh biện, khiêu khích. Điều ấy đã góp phần tạo ra sự đa thanh (chứ chưa phải là phức điệu) cần thiết cho tiểu thuyết. Dĩ nhiên tiểu thuyết sử thi hôm nay vẫn chưa thể vứt bỏ ngay được những hạn chế mà rõ nhất là sự kể khô khan, nhưng những nét tìm tòi trên đây là rất đáng được ghi nhận. Nguyễn Thanh Tú (Nguồn: báo Văn Nghệ)
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Các hình thức tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết
- Bốn giờ ở Huế (Bài đã đăng trên Tiền Phong cuối tuần số 49 ra ngày 5-11/12/2009 với tên "Uống rượu với nhà văn Nguyễn Khoa Điềm"
- Giải thưởng của Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam:người Kinh nhận giải
- Đôi lời cùng bạn đọc của tác giả 'Giữa thanh thiên bạch nhật'
- Nhà thơ Trần Đăng Khoa: 'Không làm được là Hội có lỗi'
- Tiểu thuyết Việt Nam: đang chuyển động không nhỏ
- Trùng bút danh - chuyện dở khóc dở cười
- "Tôi để lại không mang theo gì cả/Thật nhẹ nhàng, như gió, lúc ra đi"
- Đoàn Lê 'chị tôi'
- Võ Thị Xuân Hà: "Văn học trẻ: Những tia nước tinh nghịch"













