1. Năm 1941, khi giới thiệu Nguyễn Bính với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã chỉ ra một đặc điểm chủ yếu, thậm chí là phổ quát nhất của tất cả mọi cấu trúc cái tôi thi sĩ lẫn công chúng thời đó, mà, đến bây giờ vẫn được nhắc lại như một sự công nhận tuyệt đối xen cả thích thú: "ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê". Như thế, nghiễm nhiên, "người nhà quê" đã cư trú một cách tự nhiên, lâu dài trong đời sống Việt và do đó, tự nó đã là thành thân quen máu thịt đến mức khó cưỡng lại nỗi thương nhớ, niềm suy tư về nó. .
Tự nó, người nhà quê hay nói rộng hơn, nông thôn, là một thực tế lịch sử và thực tại đời sống được duy trì, cố định và dù có biến đổi thì trước sau vẫn đảm bảo vị thế nhân tố tạo tác văn hóa Việt mà bằng chứng thuyết phục, được tán thưởng và lan truyền rộng rãi, là sự đứng vững của mô hình làng xã, nơi người nhà quê thủy nguyên nhất tự thành và tự là mình, trước tác động của các tiềm lực văn hóa khác trong đó có văn hóa ngoại bang. Về nó, ngược lại, gần như không có một đường hướng bao trùm, các khế ước về nó, chẳng hạn - tình nghĩa xóm làng: tắt lửa tối đèn có nhau, bán anh em xa mua láng giềng gần, bầu ơi thương lấy bí cùng... đôi khi vẫn buộc phải thay thế hoặc phủ nhận, ví như - tinh thần vị kỉ, tự kỉ: ta về ta tắm ao ta, trâu ta ăn cỏ đồng ta, ăn cây nào rào cây ấy... Về nó, mãi mãi, là những thách đố mà những dấn thân giải đáp cho thách đố ấy, xem ra vẫn chưa thể dò thấu tận cùng để là tự nó
Chính Nguyễn Bính, thi sĩ được xem là "chân quê" nhất với nghĩa là viết về người nhà quê, về làng quê nhiều và hay nhất, tự thân đã có một mâu thuẫn lớn lao, dai dẳng: khao khát ra đi. Có lẽ một trong những mối bận tâm lớn nhất của đời thi nhân Nguyễn Bính là giải đáp được câu hỏi: đi đâu? về đâu? Hơn mười tuổi Nguyễn Bính rời làng quê mình, một nơi mà vẫn váng vất đâu đây tiếng thở dài Tú Xương Vị Xuyên, bậc tiền nhân của ông, người đã tặc lưỡi chối từ cuộc đời lang bạt một cách ngậm ngùi: “Ta nhớ người xa cách núi sông/ Người xa xa lắm nhớ ta không”. Rồi sau đó, chừng như tất cả thời gian hiện hữu trên cõi đời, Nguyễn Bính đã tận tâm dành cho bước chân giang hồ, ông đọ tuổi trẻ của mình bằng “mười hai bến nước", ông dan díu kinh thành “một nghìn cửa sổ”, chấp nhận tình thế “lỡ bước sang ngang”, áng Mây Tần không giấu nỗi niềm “hương cố nhân”… Cho nên Nguyễn Bính vẫn là con người đô thị viết về người nhà quê, về nông thôn, do đó dư vị tê tái nhất trong thơ Nguyễn Bính, theo tôi, không phải là cái khuy bấm trên áo người thôn nữ mà là cảm thức quê người: Giang hồ sót lại mình tôi/ Quê người đắng khói quê người cay men.
Khi Hoài Thanh sớm nhận ra trong thi phẩm Nguyễn Bính, "giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới" để rồi thấy "khó chịu như khi vào một ngôi nhà chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật", thì Hoài Thanh, một mặt, đã chính xác khi khơi gợi ý vị dân gian xuyên thấm trong thơ họ Nguyễn nhưng mặt khác, đã nhầm lẫn khi trách thi nhân. Bởi vì, về cơ bản, cái tôi của Nguyễn Bính là cái tôi đô thị, nó là một "kẻ khác" được gắn vào tâm hồn đồng quê của Nguyễn Bính. Chính kẻ khác này là nguyên cớ khiến nhà thơ không ngừng viết về làng quê như một cách thức cứu chuộc tình thế vó ngựa kinh thành đồng thời lại nảy sinh nhu cầu chuyển tải một vài tâm tình xa lạ mà dấu vết của nó là "một đôi lời quá mới". Nguyễn Bính, từ đó, như một ví dụ thú vị cho cái tôi gián điệp nhị trùng: tự nhà quê và về nhà quê. Nguyễn Bính không có được cái hạnh phúc của bậc tiền nhân họ Trần, người vỏn vẹn ruổi rong thành Nam và là người, trong sự chiêm nghiệm sâu sắc về thân phận người phụ nữ làng quê, đã có những có lời lẽ thâm tình và tài tình: "Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông". Thi sĩ chân quê, vẫn theo thiển ý của tôi, là kẻ thất bại lẫm liệt trên hành trình bảo vệ cái tôi làng quê trước sự có mặt của kẻ khác ngay trong chính con người mình.
2. Hơn 40 năm sau, trong lời đề từ cho truyện ngắn Những bài học nông thôn, Nguyễn Huy Thiệp viết: "Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn...". Lời khẳng định này mà dạng thức ngắn, chắc nịch của nó đã phần nào loan báo những minh triết sâu sắc về nông dân, nông thôn mà nhà văn, qua hàng loạt truyện ngắn khác nữa, gửi đến độc giả. Điểm khác nhau cơ bản giữa sự phát hiện của Hoài Thanh và lời khẳng định của Nguyễn Huy Thiệp, có lẽ ở chỗ: thứ nhất, như một nhu cầu nhận thức tự thân, Nguyễn Huy Thiệp đặt lại vấn đề nông thôn, nông dân trong tương quan tự nó. Trước Nguyễn Huy Thiệp một thời gian dài, văn học bị viết về nông thôn và vì sự trái tự nhiên này mà ta thấy nông thôn chỉ là cái sân khấu, nơi nhà văn cụ thể hóa ý tưởng của mình qua các lát cắt sắp sẵn (ví dụ: hợp tác xã, khoán, cải tạo nông thôn...). Nông thôn, nông dân trong văn học mất dần diện mạo cái tôi thực của nó, hay nói theo kiểu ngày nay, là mất bản sắc. Khi nhắc lại nguồn gốc bản thể [là nông dân] và nguồn gốc ra đời [ở nông thôn] Nguyễn Huy Thiệp đã kịp thời bẻ ghi và trả về cho văn học tính toàn vẹn, thanh khiết của đối tượng, ở đây là nông thôn/nông dân. Văn học đã có sự tự chủ và độc lập nhất định của mình để giải phẫu đối tượng đó. Mặt khác, điểm thứ hai, khi nhìn nông thôn/nông dân như là tự nó thì dù gián tiếp hay trực tiếp, nhà văn hoàn toàn chủ động tái phối trí nó trong văn bản, trong tác phẩm, tránh tình trạng có một kẻ khác tồn tại trong mình, điều dễ khiến người viết rơi vào cảm giác ngoại cuộc và ngoại nhân. Cuối cùng, điểm thứ ba, như là yêu cầu và hệ quả của hai vấn đề trên, đề từ có sức mạnh của một triết lí cứa động tâm can độc giả, đã có thể tự biểu đạt mẫu số chung những cung cách phơi mở chất nông thôn/nông dân trong văn học giai đoạn đổi mới.
Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp thì Tạ Duy Anh, người thúc đẩy “văn học bước qua lời nguyền” trong thập niên 1980, đã cho văn học một cơ hội để nông thôn/nông dân được là tự nó. Trước những nhà văn này, giai đoạn 1930 – 1945, Nam Cao cũng kịp để Chí Phèo, một nông dân cùng đinh và lưu manh hóa đòi quyền làm người lương thiện. Thực tế, bi kịch của Chí Phèo đã được tiếp nối và mở rộng ra bởi lão Khúng, bởi lão Khổ, bởi Nhâm, chú Phụng, thầy giáo Triệu... Khi lão Khúng và con bò cập phiên chợ Giát, văn xuôi nước ta mới thấm thía nỗi khô hạn ở những miền đất bị bỏ quên trong hai cuộc chiến. Và càng thấm thía hơn trước bức tranh rùng mình này: nỗ lực bất thành của người nông dân trong việc giải thoát những u mê, trì trệ, ngớ ngẩn và cô độc… cuối cùng, được dẫn dắt bởi một con bò để vượt qua đêm tối và chào một ngày mai vô vọng. Hành trình lão Khúng, từ ý chí mãnh liệt đến việc bị tước đoạt hết là một hiện thực nghiệt ngã, còn hành trình của con khoang đen, từ nô lệ đến kẻ dẫn dắt là một nỗi đau nóng sốt. Cách mà Nguyễn Minh Châu phản tỉnh độc giả, gợi nhớ bàn tay sắp đặt ngẫu nhiên của Chúa trời, khi con người phải đến sau con bò thì những rao giảng đạo đức và sức mạnh trở nên vô vị và thiếu cơ sở hơn bao giờ hết. Có lẽ, tất cả những nhân vật nông dân ấy, sau nỗ lực mệt mỏi tìm đến “quyền được tự mình định đoạt cuộc sống”, sẽ lẩm nhẩm về “những số phận hắt hiu đầy mặt đất/ bao tháng ngày trôi đi/ bao kiếp người trôi đi/ sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được…” (Thương nhớ đồng quê)
Khi cái Minh, cái Mị trong Thương nhớ đồng quê, đã mãi mãi nằm lại nơi cánh đồng ở tuổi mười ba bởi một tai nạn thương tâm (cả hai bị chiếc xe chở cột điện, chi tiết ngụ ý về việc thay đổi bộ mặt nông thôn, cán chết) thì người ta hiểu rằng, đồng quê sẽ gánh lấy những chuỗi tai nạn tiếp theo bởi một trật tự văn hóa hay văn minh khác. Cơ hội cho nông thôn tự nó chính là tiếng khóc, đau đớn, tê buốt, điều mà Nguyễn Ngọc Tư, qua Cánh đồng bất tận, đã diễn đạt: “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúc này mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành”. Mô hình làng xã, con người nhà quê đã không thể đứng vững như người ta tưởng, nó bị rữa dần bởi các xung lực từ bên ngoài. Sự phẫn nộ theo kiểu: “Bọn thành phố toàn quân mất dạy” (Những bài học nông thôn) hay “Bọn thành phố nhiều mưu mẹo lắm” (Thương nhớ đồng quê), rút cuộc chỉ có thể hình dung là những phản ứng tức thì nhưng yếu ớt từ một cộng đồng vốn dựa chủ yếu vào tinh thần “một nắng hai sương chăm lo cày cấy”.
Bởi thế, tự nó, nhà quê/nông thôn vẫn là một thực tế bỏng rát nhất với “những đứa trẻ tên Hận, tên Thù… những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi” (Cánh đồng bất tận). Cần nói thêm rằng, Cánh đồng bất tận cung cấp thêm cho độc giả một cảm thức về số phận những người nông dân - lưu dân mà cũng đã lâu rồi, văn học dường như lãng quên nó. Đặt cạnh Mùa len trâu, Cánh đồng bất tận tạo thành điểm nhấn về thế - giới - nước, vốn là môi trường sống của người nông dân - lưu dân, nơi luôn ẩn chứa bao mối hiểm nguy, cuồn loạn, tha hóa dù nó, dĩ nhiên, có cả phóng khoáng và tái sinh. Trong thế giới nước và trong bước đường tìm kiếm không gian, những cá thể thuần nông mới hay rằng “những cánh đồng đó đã hắt hủi cây lúa” như hắt hủi và khước từ chính họ. Nghịch lí và bất khả tri thay nông thôn và cánh đồng Việt Nam! Những đổi thay, hiện đại nào đó, nếu được thực thi cho nhau ở đây, liệu có xóa đi hết những dòng - sông - nước mênh mông “lại phủ lên một thế giới rũ mục... Cỏ và nhà. Người và trâu” (Mùa len trâu)?
Dù sao, khi nói lên được những nghịch lí ấy, văn học đã để nông thôn/nông dân được là tự nó hơn. Và ngược lại, một khi được giải phóng những ràng buộc về nó, nhà văn sẽ bứt phá một cách táo bạo và thành công trên bút pháp của mình. Mãnh lực hư cấu cũng góp phần tạo ra sự thay đổi đáng kể cho quan niệm của nhà văn khi khai thác đời sống nông thôn/nông dân.
Có lẽ, từ lâu, nông thôn/nông dân trong văn học thường được xây dựng bởi những nhà văn hoặc gắn với hoặc đã từng nông thôn/nông dân. Kinh nghiệm về đối tượng, trong tư duy nhà văn, vẫn là thứ bảo bối, là thứ của nải giắt lưng để triển khai nó trên trang viết. Dần dà, quan điểm đó trói buộc và trong tình thế bị cái nhìn hiện thực chủ nghĩa dẫn dắt, ngòi bút nhà văn dễ bị đông cứng ở một chiều, giản đơn, phiến diện. Trường hợp những nhà văn vượt qua khu bảo tồn kinh nghiệm, vốn liếng của cá nhân và nhất định phải có những thủ pháp hư cấu, huyền thoại, kì ảo, nhại… thì hiện thực mà anh ta chuyển tải, ở đây là nông thôn/nông dân, sẽ là nơi nhà văn suy niệm về chính nó, trước khi, một mặt để nó trở nên sống động như thật, mặt khác, là một sự thật khác có sức dự phóng và tiên tri. Tác phẩm, vì thế, là cho độc giả một thời và nhiều thời.
3. Gần đây, tôi có xem lại phim ngắn Cuốc xe đêm của Bùi Thạc Chuyên. Là phim ngắn nhưng gợi cho tôi nhiều suy nghĩ, nhất là chi tiết về anh chàng đạp xích lô gốc miền Trung ra Hà Nội tìm việc. Đây là kiểu nhân vật tiêu biểu cho hành trạng nông thôn ngày nay: di dân. Từ người đi ở/ở đợ đến lưu dân và di dân, nông dân Việt Nam vẫn theo đuổi một hành trình an dân miệt mài và thầm lặng. Điều đó, với riêng tôi, là một ám ảnh và một chất vấn đối với nền văn hóa thuần nông vốn rất coi trọng an cư.
Cũng gần đây, có ba tiểu thuyết, ít hoặc nhiều, đều có đề cập đến nông thôn/nông dân: Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường). Điều đáng nói là, không hẹn mà nên, cả ba đều có một khung câu chuyện khá giống nhau đến mức, việc sơ đồ hóa nó thật dễ dàng: sự thăng trầm của dòng họ qua biến động của thời đại, lịch sử. Trong những sự kiện làm nên dung lượng hiện thực cho tiểu thuyết, các tác giả đều có rẽ ngoặt vào phong trào cải cách ruộng đất, nơi mà từ đó, địa vị của người nông dân thay đổi không lường. Cả ba tiểu thuyết đều xây dựng kiểu nhân vật nông dân - ở đợ mà diễn biến cuộc đời họ, thật đặc biệt, cũng na ná như nhau: Quặc (Thời của thánh thần) sau trở thành người tôn tạo dòng họ Nguyễn Kỳ; Vũ Hùng (Cuồng phong) sau trở thành vị tướng quân đội, niềm tự hào của gia tộc Nguyễn Đức; Đào Kinh (Dưới chín tầng trời), sau trở thành tỉ phú, người có uy quyền bậc nhất của gia đình Hoàng Kỳ. Nghĩa là, họ, không nghi ngờ gì nữa, dù cách thức có khác nhau đôi chút, đều đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”! Ngoại trừ Dưới chín tầng trời có kết cấu và cách triển khai giọng điệu tiểu thuyết tương đối vững vàng thì hai tiểu thuyết còn lại, tuy có sự bao quát hiện thực rộng lớn, vẫn là sự gia công vụng về. Nhìn lại quá khứ theo tinh thần phản biện, cái có thể xem đường biên của hai tiểu thuyết này, thực tế không có gì quá mới. Bởi vì, với nhận thức hôm nay, quá khứ và lịch sử đã không chỉ hiểu theo một cách, một chiều. Và những “bí mật” lịch sử cũng không còn quá bí mật nữa. Tiểu thuyết, nếu chỉ say mê thuật lại các sự kiện, xếp chồng lên nhau theo diễn biến của thời gian và thời cuộc thì “câu chuyện vĩ đại” hay tham vọng “đại tự sự” kia chỉ là thiên kí sự nhiều kì. Các sự kiện, rút cuộc, chỉ là tấm áo nhẹ khoác lên cái khung tính cách nhân vật được hoàn bị từ trước.
Đó là một ví dụ nhỏ để thấy rằng, tiểu thuyết thời gian qua, tuy số lượng dồn dập, nhưng không gây ấn tượng gì về cái mới, ngoại trừ những lời than phiền rằng nó quá cũ.
Cũng gần đây nữa, có hẳn một hội thảo mang tên “Văn học với đề tài Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn”. Đa số đều thấy, văn học chưa có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về tam nông như “tầm” của nó.
Chúng ta luôn đòi hỏi văn học phải tương xứng với đề tài, hoặc ít ra, phải có tầm vóc như thế nào đó để đề tài thực đúng là lực hút của nhà văn. Đề tài, theo cách hiểu lâu nay, bị đồng nhất với hiện thực. Nguyễn Chí Hoan, trong bài Về anh hùng, về chiến tranh và về đồng đội hay là một Nỗi buồn chiến tranh khác nhân đọc Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy, viết: “Có một luận điểm đã nhiều lần được nhắc đi nhắc lại trên các diễn đàn chính thức về văn chương nước nhà: chúng ta đã có một cuộc chiến tranh giải phóng, giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc rất lớn lao, nhưng văn chương chưa có tác phẩm nào để xứng với tầm vóc của giai đoạn lịch sử ấy của dân tộc và đất nước”. Nếu đây quả đúng là lời phát vấn của số đông thì ta thấy quan niệm đề tài là hiện thực, là những gì đã/đang xẩy ra rất đáng phải suy nghĩ. Người ta sẽ đặt câu hỏi: vậy ở những nơi không có cuộc chiến lớn, thì văn học sẽ chẳng có tác phẩm viết về chiến tranh [chứ đừng nói là xứng tầm]?! Nước ta chưa có khoa học vũ trụ thì văn học viễn tưởng (mà những cuộc thi viết cho thiếu nhi yêu cầu) biết đến bao giờ khả thi? Hơn nữa, nước ta có cả cuộc chiến tranh lớn lao, có nông thôn/nông dân chiếm 70% dân số, có miền núi hơn 50 dân tộc anh em… nhưng văn chương nước ta, chiếu theo tiêu chí xứng tầm, thì sẽ có (chẳng hạn): Nỗi buồn chiến tranh, Chí Phèo, Vợ chồng A Phủ… là hết ?! Rõ ràng, sự đề cao hoặc quá phụ thuộc vào đề tài sẽ đến lúc, bị nó bỏ rơi. Đấy là chưa kể, sự đề cao này vô tình tạo nên sự phân cấp trong văn học, đề tài nào đáng để viết hơn đề tài nào? Thiết nghĩ, tác phẩm không là sản phẩm của đề tài. Chỉ có những tác phẩm mẫu mực cho đề tài chứ không có đề tài mẫu mực cho tác phẩm. Văn học, với tính chủ động của mình, sẽ tìm tự đến những cơ hội mới và xây dựng giá trị từ cơ hội đó.
4. Cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn. Tôi vẫn nghĩ về điều đó như bài học cuộc đời.
Mai Anh Tuấn.
Bài đã đăng Văn nghệ Trẻ
Theo Phongdiep.net
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Nhà thơ Hữu Thỉnh: "Đây là trường hợp mạo danh chứ không còn là đạo văn nữa"
- Bà Đào Kim Hoa: Tôi không giấu mình là dịch giả
- Thúc Sinh, người giải phóng Kiều khỏi bóng ma Đạm Tiên
- Truyện Kiều: "Hình tam giác muôn đời"
- Văn chương giải trí: Nghề chơi cũng lắm công phu
- Làm chồng nhà văn
- Lời tự vấn khắc nghiệt của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
- Thần đồng Trần Đăng Khoa và khoá học đặc biệt
- Bồi dưỡng sáng tác để… tạo nguồn
- Bảo Ninh đọc "Ký Ức Vụn"













