1. Trên văn đàn đương đại Việt Nam, loại truyện ngắn viết lại “chuyện xưa”, “tích cũ” có sự nở rộ khác thường, gây ra tiếng vang rộng khắp. Đó được xem là một hiện tượng giàu ý nghĩa với sự góp mặt của các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Đạt, Lê Minh Hà, Hoà Vang, Trương Quốc Dũng, Bùi Hoàng Vị, Lưu Minh Sơn, Hồ Anh Thái…, làm cho đời sống văn học sôi nổi hẳn lên. Đánh giá chung, về thể loại truyện này, nó không chỉ có hình thức đa dạng, phong phú mà nội dung phản ánh cũng rất rộng, đề cập đến mọi vấn đề trong đời sống xã hội, đặc biệt là nói đến một số vấn đề mang tính nhạy cảm trong thời hiện đại. Tìm hiểu về loại truyện này, còn giúp chúng ta tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa đời sống văn học và đời sống xã hội một cách đầy đủ hơn. Loại truyện ngắn viết lại “chuyện xưa” “tích cũ” sử dụng các mẩu “chuyện xưa” hay một số sự “tích cũ” làm “vật liệu” để kiến tạo nên tác phẩm mới. Đó có thể là những chuyện cổ tích, những giai thoại, những mẩu chuyện lưu truyền trong dân gian, nay được viết lại, viết thêm hoặc dựa trên những yếu tố cơ bản như nhân vật, sự kiện để viết thành cốt truyện mới. Sự sáng tạo bằng hệ thống thi pháp hiện đại, đã làm cho loại truyện cổ này không còn đơn thuần là công cụ chức năng nữa, mà nó được nâng lên tầm cao hơn, chuyên chở những thông điệp khác nhau, mang màu sắc hiện đại.
2. Việc viết lại “truyện cổ” có nhiều cách thức khác nhau, trong đó cách giữ nguyên cốt truyện cũ và được gia cố thêm bằng các chi tiết mới như nhân vật, diễn biến câu chuyện.
Một số “truyện cổ” được tái hiện lại trong các truyện ngắn đương đại với cốt truyện không bị thay đổi nhưng cũng không phải là sự kể lại hoặc dịch lại nguyên văn chuyện cũ mà đã được các tác giả bổ sung thêm một số chi tiết làm cho truyện đó vừa mang màu sắc cổ xưa lại vừa mang màu sắc hiện đại. Màu sắc của cuộc sống đương đại với sự bộn bề, phức tạp đa dạng cũng như sự phong phú trong đời sống nội tâm của con người.
Nếu như, những nhân vật “cổ” xuất hiện trong truyện ngắn của Lỗ Tấn vẫn mang dáng vẻ của thời đại “cũ”, thì ở trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp những nhân vật như Hồ Xuân Hương, Trương Chi… đều đã được trao cho một dáng vẻ của con người hiện đại. Chút thoáng Xuân Hương được gợi ý từ thơ của Hồ Xuân Hương, tuy Hồ Xuân Hương không xuất hiện. Trong truyện Trương Chi, cũng không phải là một Trương Chi hát hay, đàn giỏi như trong sự hình dung xưa nay mà là một anh chàng rất đỗi đời thường, tính toán, nhưng đó không phải là do bản chất của chàng không tốt mà vì chàng hiểu ra bản chất của cuộc đời, sự khốn nạn của kiếp sống nghèo hèn do sự tàn nhẫn phi lý của hiện thực. Hiện thực ấy khiến chàng đau khổ, tức giận và căm ghét.
Ngoài ra, chúng tôi thấy trong các tác phẩm của Lê Đạt có rất nhiều truyện được viết theo cách thức này Bài Hai ku nói về cuộc gặp gỡ giữa Tướng quân Yođa và nhà thơ Basô là có thật nhưng cuộc đối thoại giữa họ cùng những chi tiết như Basô nợ tiền rượu, “mặt như một nông phu”, uống trà như “phường ngưu ẩm”, một Basô sỗ sàng, dung tục, hồn nhiên đến quá mức thì lại mang nhiều nét hư cấu. Cùng một cách thức như thế một loạt các tác phẩm khác như: Lầu Hạc Vàng. Bữa tiệc Flobe, Bức tranh có ma, Đám ma Sêkhôp, Hèn đại nhân đều có những nhân vật thật. Tác giả đã giữ nguyên những sự kiện cơ bản về nhân vật. Câu chuyện về lầu Hoàng Hạc với hai bài thơ của Thôi Hiệu và Lý Bạch là có thật còn cuộc thi thơ được tác giả nói đến không phải để so sánh tài năng mà để nhằm đến mục đích khác. Flobe viết với với những trang viết nhập thần là có thật. Cuộc đời của nhà văn Banzắc và hoạ sỹ Van Gốc đã từng diễn ra đúng như tác giả nói. Nhưng những chi tiết khác thì đều được tác giả làm mới thêm, qua việc tìm hiểu những chi tiết đó đã giúp chúng ta vừa tìm ra được những bức thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Trong truyện Cây đàn Long Môn, nhắc đến mối tình tri âm giữa Bá Nha và Tử Kỳ cùng tiếng đàn huyền thoại. Ngoài ra tác giả còn bổ sung thêm một loạt chi tiết mới về cuộc sống riêng tư của Bá Nha cũng như sự tái xuất của tiếng đàn một cách đầy dụng ý nghệ thuật.
Bằng cách giữ nguyên các sự kiện chính liên quan đến nhân vật với những điều chân thực từ hoàn cảnh xuất thân, đến quá trình tưởng thành, nhưng sự nghiệp của họ theo đuổi và cả cách kết thúc cuộc đời của họ nữa như Banzắc, Flobe, Van Gốc đã tạo cho người tiếp nhận tin rằng đó là điều có thật. Độ tin cậy cao hơn, những chi tiết dù được làm mới, cho thêm vào cũng làm cho nó trở thành cũ xưa nhưng khác chăng là nhờ ở giọng điệu, ngôn ngữ của nhân vật cũng như của tác giả trong truyện cổ ít biểu cảm, thiên về miêu tả và nhân vật chỉ được miêu tả hành động không có diễn biến nội tâm, nếu có thì cũng mang tính chung chung. Còn trong các truyện viết lại “truyện cổ” này cũng là các nhân vật đó nhưng nhân vật không chỉ được miêu tả nội tâm nhiều mà còn có nhiều lời đối thoại thậm chí độc thoại. Những lời của nhân vật cũng không còn vẻ chung chung nữa mà mang tính cá nhân rõ rệt, những nhân vật cổ luôn bị đóng khung trong những khuôn phép chuẩn mực nay được trao cho loại người mang tính hiện đại. Những tưởng là khập khiễng nhưng hoàn toàn phù hợp. Nhờ những lời phát ngôn đó mà các nhân vật được bộc lộ hết những nỗi niềm của một con người với đầy đủ quyền lợi được có. Và cũng chính nhằm và những chi tiết được thêm vào và lời nói mang tính hiện đại của nhân vật mà tác giả thể hiện những ý tưởng nghệ thuật cảu mình. Sự kín đáo đó của tác giả vừa đồng thời thể hiện được tài năng sáng tạo của mình trong bối cảnh văn học có sự phát triển mạnh mẽ chấp nhận, khuyến khích các hình thức cách tân, chấp nhận sự đa nghĩa và khẳng định bản sắc phong cách riêng của từng nhà văn. Mỗi nhà văn cần tạo ra một giọng điệu phong cách riêng lại vừa khẳng định được tài năng của mình thì mới không bị thời gian xoá nhoà.
Ngoài ra, hình thức mượn xưa để nói nay đã có tính truyền thống từ trước, nay được phát triển cao hơn nữa, để nhằm chuyên chở những thông điệp đánh giá không tiện nói ra trực tiếp nên mượn vỏ bọc của chuyện xưa, người cũ, như vậy vừa hiệu quả, vừa ít bị bắt bẻ. Ngoài hình thức làm mới cốt truyện cũ thì truyện ngắn viết lại còn có một số hình thức thể hiện khác.
3. Khi truyện ngắn Sự tích ngày đẹp trời và truyện Nhân sứ của tác giả Hoà Vang ra đời, dư luận khá xôn xao. Những lời khen chê đều có, sự phát xét của dư luận bao giờ cũng ồn ào nhưng công bằng, kết quả cho thấy không một tác phẩm nào được nhớ đến trong thời gian dài mà nó không thực sự có chất lượng. Giá trị của tác phẩm không chỉ được thể hiện qua những giải thưởng đã làm rạng danh tác giả cũng như khiến người ta chú ý mà nó thực sự được khẳng định cao hơn khi nó sống mãi trong lòng độc giả. Đây là hai truyện ngắn của tác giả Hoà Vang được viết theo hình thức viết thêm phần hậu truyện, phần sau của những câu chuyện cổ tích đã định hình trong lòng độc giả. Xưa nay chúng ta vẫn quen với những kết thúc có hậu của truyện cổ tích, ở đó cái thiện được bù đắp, cái ác bị trừng trị, người “ở hiền gặp lành” kẻ “gieo gió thì gặp bão”. Chúng ta tưởng như thế là kết thúc thoả đáng rồi. Nhưng không, Hoà Vang đã là người đi tiếp, viết tiếp phần sau cho những câu chuyện ấy.
Cũng vẫn là nhân vật trong truyện xưa nhưng nếu ở trong truyện của Lê Đạt thường là nhắc lại về cuộc đời của các nhân vật và viết thêm tạo cho người đọc một sự hình dung khác đi về nhân vật thì Hoà Vang lại không làm biến đổi phần đầu cốt truyện cũ mà chỉ viết thêm phần sau. Đó như là những vui buồn của người diễn viên sau cánh gà khi đã diễn xuất những gì người xem yêu cầu. Truyện Sự tích ngày đẹp trời nói về Mị Nương - người con gái xưa nay ta vẫn hình dung là hiền thục, thật thà, xinh đẹp đã hạnh phúc hài lòng khi theo Sơn Tinh về núi Tản Viên bỏ lại Thủy Tinh thất bại, căm hận, dâng nước trả thù. Những con nước bạc hàng năm nhấn chìm hoa màu làm hại đến đời sống của nhân dân là do vết thương lòng đó gây ra. Chúng ta quen ngợi ca Sơn Tinh và nguyền rủa Thuỷ Tinh, kẻ thất bại, kẻ độc ác, kẻ xấu xa. Và chúng ta quên đi một điều hãy đối xử thật công bằng để xem xét lại mọi việc, khi xét lại mọi việc mới thấy Thủy Tinh quả bị oan, chàng cũng là một người có tình cảm sâu nặng nhưng do thua thiệt đủ đường từ lễ vật đến khoảng cách, chàng thua Sơn Tinh là phải. Một người nặng tình như thế thì Mị Nương - một người con gái lấy chồng theo ý cha không nhớ không lưu tâm mới là điều không bình thường. Và vì cảm thông cho nỗi niềm của Mị Nương và Thuỷ Tinh, như một sự bù đắp “một ngày đẹp trời” xuất hiện mỗi năm cho hai người gặp nhau. Trong truyện này tác giả không nói nhiều mà để cho nhân vật tự bộc lộ và được giãi bày những lời nói của nhân vật như là lời của những con người hiện đại với ý thức cá nhân cao, phát ngôn để tự bào chữa cho mình. Sau khi đọc truyện này chúng ta chợt cảm thấy thương cho cả Mị Nương và Thuỷ Tinh mỗi người có một lẽ riêng. Tuy là phần hậu truyện nhưng lại có mối liên hệ khớp với phần truyện chúng ta thường nghe. Ở đây vừa là cái nhìn mới mẻ của nhà văn cũng là sự đánh giá của người hiện đại về những truyện đã qua. Cách lật ngược lại vấn đề như vậy chính là một nét đặc sắc của các sáng tác văn học ngày nay.
Ngoài ra, còn có nhiều truyện ngắn khác cũng được viết theo dạng này như Đường Tăng của Trương Quốc Dũng. Khi tiếp cận người đọc liên tưởng tới bốn thầy trò Đường Tăng trải qua bao gian nan vất vả để đi Tây Trúc thỉnh kinh mong tu thành chính quả. Thế nhưng sau khi nhiệm vụ hoàn thành bốn thầy trò được ban cho thoát khỏi chốn dương trần về với cõi Phật, Đêm cuối cùng làm người, Đường Tăng không ngủ được. Tác giả đã viết về những con sóng trong lòng của ĐườngTăng trong đêm ấy. Trong truyện Tây du ký chúng ta chỉ tưởng ra sự hài lòng đến tuyệt đối của bốn thầy trò chứ chưa từng nói đến một sự băn khoăn nào. Tác giả làm cho người đọc sửng sốt khi Đường Tăng tỏ ra băn khoăn về sự lựa chọn của mình, nghi ngờ chân lý mình theo đuổi. Nhưng đã quá muộn. Nếu như người đọc không hiểu hết ý tưởng của tác giả thì cứ ngỡ đó là sự cân đo giữa Đạo và đời vì thực chất không phải như thế. Mà phần hậu truyện này giúp chúng ta nhận ra rõ “đạo” không ở đâu xa, được ngay trong mỗi chúng ta.
Cũng nói về chuyện Thầy trò Đường Tăng, truyện Nhân Sứ của tác giả Hoà Vang viết về việc bốn thầy trò đã tu đắc đạo đã thành chính quả nhưng lại luôn chờ đến kiếp làm người và muốn được làm người như Sa Tăng. Vậy chẳng hoá ra việc tu luyện vượt qua thử thách là vô ích.
Tác giả Lê Minh Hà có các truyện như Châu Long, Ngày xưa cô Tấm, An Dương Vương đều được viết theo cách thức này. Truyện Châu Long đã lần đầu tiên đưa Châu Long - người phụ nữ vĩ đại chưa từng được nói đến - xuất hiện trong văn học. Tình bạn của Lưu Bình và Dương Lễ đã trở thành giai thoại, để người đời sau hết lời ca ngợi nhưng lại không ai biết rằng có được tình bạn cao cả đó, đã có một người phụ nữ hi sinh cuộc đời của mình trở thành một thứ phương tiện trong tay những kẻ đàn ông. Tác giả đã nhìn ra sự thiệt thòi của Châu Long, vì thế mà ở cuối truyện nàng đã được nâng lên đúng tầm và hai người đàn ông mà nàng đã vì họ quên mình bị hạ bệ. Ở đây tác giả đã nói thay cho những cơ cực của Châu Long, những thiệt thòi của nàng , cách nói của tác giả hàm chứa một cách nói sâu sắc. Nàng lấy chồng, không được chăm sóc cho chồng, mà được chồng cho đi chăm sóc bạn của chồng. Tay nàng vun vén, vỗ về giúp bạn của chồng đậu đạt vinh quy bái tổ. Nàng chẳng được hưởng niềm vui đó mà phải trở về theo lời chồng dặn. Sau hơn mười năm xa cách, chăn đơn gối chiếc, trái tim của nàng đã lạnh giá, lại bị chồng ngờ vực và lạnh lùng. Suốt quãng đời còn lại nàng sống trọng lặng lẽ và giá băng. Đó chính là phần sau của một câu chuyện có hậu. Dù viết tiếp, nhưng truyện không bị lặp lại mà còn tạo ra những giá trị mới qua sự nhìn nhận và đánh giá của con người hiện đại về những nhân vật đã “im lặng” trong truyện xưa từng được ca ngợi. Trước đó các nhân vật chỉ được nhìn một chiều, hành động theo chức năng thì nay trong phần hậu truyện này được nhìn ở nhiếu góc cạnh khác nhau, từ đó tái hiện được mọi biểu hiện của tâm trạng nhân vật, hoặc nói cách khác nhân vật được sống trong thời hiện đại với sự đa giọng điệu và hình ảnh con người cá nhân được bộc lộ rõ ràng tự nhiên nhất. Được nói lên tếng nói của lòng mình chứ không phải nói thay cho một người nào khác với những tâm sự khát khao chân thật, mãnh liệt của một con người. Phần hậu truyện này các tác phẩm truyện cũ như được đánh giá lại nhìn nhận lại dưới góc độ mới, một thế giới quan mới, tạo ra những giá trị đạo đức mới đồng thời làm cho chúng ta thay đổi cách nhìn một chiều và tự rút ra những nhận thức mới.
Nếu như văn của Lê Đạt là sắc sảo, góc cạnh thì Lê Minh Hà lại có phần nhẹ nhàng, đằm thắm hơn. Trong truyện Gióng, khi đọc tiêu đề cữ ngỡ rằng tác giả viết về Gióng, nhưng không phải vậy tác giả viết về người sinh ra Gióng - Mẹ Gióng. Nổi lên trong toàn bộ truyện là những lời độc thoại, những lời đối thoại trong cơn mơ cũng là một trong những hình thức độc thoại, thể hiện những nỗi niềm của mẹ dành cho đứa con mới lên ba đã phải đảm đương trọng trách của người lớn để rồi trở thành thánh nhân. Một trong “Tứ bất tử” của Việt Nam, mới chỉ là một cậu bé lên ba, nhưng trong tưởng tượng thì Gióng vẵn là một vị anh hùng cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, xông pha trận mạc, đánh đuổi quân giặc đem lại sự bình yên cho đất nước, để rồi sau khi hoàn thành nhiệm vụ Gióng bay lên trời.
Đó là câu chuyện xưa nay ai cũng biết, nhưng có những điều chưa ai biết đến cho đến khi đọc truyện Gióng. Câu thơ đề từ “Không ai cúng thờ niềm thương nhớ ấy” (lời thơ của Đỗ Quang Nghĩa) như một lơi ru, một bài đồng giao mẹ vẵn hát, câu thơ đề từ như nói lên tất cả: mọi người thờ “Thánh Gióng” nhưng Gióng chỉ mới lên ba, mới chỉ là một đứa trẻ. Mẹ của Gióng thương nhớ lắm, ngưới ta hương khói nhưng không ai hiểu rằng tình cảm thiêng liêng và rất đỗi đời thường của mẹ dành cho con. Mẹ Gióng nói chuyện với con hằng đêm trong cơn mơ với mẹ đứa con bé bỏng luôn ở bên, vui đùa và nũng nịu với mẹ, vậy mà Gióng phải xa mẹ rồi, khi “chưa biết gì, mẹ chưa kịp dạy con gì ngoài yêu thương”. Người mẹ luôn nhớ con thương con, pha lẫn niềm tự hào vì con của mẹ đã cứu giữ nước non, nhưng lại cảm thấy xót xa khi chợt nghĩ “Chẳng mấy ai còn nhớ người được dâng hương chính là chú bé của mẹ”. Chúng ta cảm nhận được nỗi niềm của mẹ qua những lời đối thoại với con trong cơn mơ và độc thoại với chính mình. Chỉ có mẹ mới thấu hiểu được nỗi niềm của con, mẹ để cho con ra đi vì biết con không còn thuộc về nơi này, nhưng còn lại mẹ với những nỗi niềm thì không ai hiểu. Giả sử chuyện Thánh Gióng là phần một phần hậu truyện này là phần hai thì truyền thuyết chúng ta từng biết đến hẳn còn xây lên bức tượng đài về mẹ.
Trong các phần hậu chuyện là sự bộc lộ nỗi niềm tâm sự của các nhân vật, đó vừa là lời của chính nhân vật vừa là lời của những người hiện đại đánh giá về các nhân vật “cổ”, “xưa”. Trong truyện An Dương Vương, lời đối thoại của An Dương Vương và Rùa Vàng cũng vừa thể hiện sự dằn vặt, day dứt lương tâm của một vị vua đã làm mất nước, một ngươi cha đã giết con gái của mình. Lời của An Dương Vương vừa tự trách mình lại vừa thanh minh cho hành động của mình, lời của Rùa Vàng là lời của nhân dân, những con người hiện đại. Câu chuyện kết thúc với một giai thoại mới, là “điềm trời” cho mưa thuận gió hoà được mùa nhân dân an sinh, đó mới là điều cần thiết nhất với mọi người, còn những giai thoại thì chẳng có ích gì trong cuộc sống mưu sinh của họ. Cuộc đối thoại của hai nhân vật cũng có thể hiểu như là sự đối mặt giữa quá khứ đã qua, đã thành những huyền thoại lung linh màu nhiệm và hiện đại là cuộc sống xô bồ bon chen, đấu tranh để khẳng định mình để sống và vươn lên, luôn nhìn thẳng vào sự thật. Sự tiến lên của thời gian là sự lùi lại của những sự kiện lịch sử, thời gian có thể xoá đi lỗi lầm, nhưng làm sao xoá được khi ngay trong chính lòng mình luôn trỗi dậy cảm giác có lỗi, nó giống như sự vằn lên của những vết thương cũ . An Dương Vương luôn tụ trách mình quy lỗi về mình, bởi nhà vua bất cẩn không nghe lời can ngăn của cận thần nên dẫn đến cảnh mất nước hại con. Hành động nhà vua giết con với tư cách là một vị vua trừng phạt kẻ làm hại đất nướcnhưng cũng là để giải thoát cho con của mình không phải rời vào tình trạng khó xử và hiện thực đau lòng. Những lời vấn đáp của An Dương Vương cũng có thể xem là sự phán xét một cách khách quan của dư luận, của thế hệ sau dành cho nhà vua và công chúa. Nhờ vào phần hậu truyện này mà những nỗi niềm của An Dương Vương và Mỵ Châu được giải bày, vẫn là hình ành của những ocn ngườ cổ xưa nhưng tư duy của nhân vật mang tính hiện đại, những băn khoăn, lý giải đã thể hiện rõ hình ảnh của một con người ý thức rõ vai trò vị trí của mình.
Những nhân vật như An Dương Vương , Đường Tăng, Cô Tấm đều mang nặng những nỗi niềm. Tấm bây giờ khác với Tấm ngày xưa do luôn phải vật lộn với chính lương tâm của mình, những dằn vặt về việc làm của mình đối với mẹ con Cám. Những tưởng sau khi không còn kẻ thù Tấm sẽ sống hạnh phúc và được yêu thương nhưng hoàn toàn không phải. Sự tĩnh lặng không có ngay trong chính lòng mình, sự dằn vặt đau đớn đã hành hạ Tấm. Chính nàng tự kết tội mình. Bản thân tự kết tội có thể là nhẹ nhàng nhất nhưng cũng có thể là ghê gớm nhất, nó hành hạ trừng phạt đời sống tinh thần của chính mình. Tấm cũng chẳng được sống hạnh phúc dẫu lúc này không còn ai giành chồng với nàng nữa. Nhà vua không dám yêu thương một người vợ tàn bạo như thế . Trong truyện cổ tích Tấm Cám, Bụt vẫn thường xuất hiện lúc Tấm gặp khó khăn giúp đỡ và bảo ban cho nàng vượt qua nhiều khó khăn và thử thách vậy mà lần này Bụt không xuất hiện để giúp Tấm xua đuổi những giấc mơ kinh hoàng, những cơn chống đỡ trong tuyệt vọng. Rồi Tấm khóc, Tấm đã chịu nhận ra lỗi của mình, khi Tấm biết lỗi, Cám cũng thôi không xuất hiện nũa. Những nỗi niềm của Tấm, phải chăng là sự hoá thân của một con người cá nhân vào trong con người chức năng bổn phận của truyện cổ tích? Điều tác giả nói không khó nhận ra, chúng ta đã tìm hiểu những thông điệp đạo đức tác giả gửi gắm ở phần trên.
Mặc dù sử dụng cách viết thêm phần hậu truyện, nhưng chúng ta thấy các tác giả vẫn luôn tạo ra sự gắn kết mà người đọc khi tiếp nhận sẽ liên tưởng đến hình ảnh số phận của nhân vật trong cốt truyện cũ. Từ sự liên tưởng đó mà phát hiện ra những điều mới mẻ. Nhân vật vẵn mang dáng vẻ xưa nhưng tâm tính đã thay đổi, có cả những nhân vật trung tâm và những nhân vật chưa từng được nói đến, nay được bộc lộ những nỗi niềm sâu kín. Những nhân vật cổ được tạo cho một giọng điệu của con người hiện đại, có diễn biến nội tâm, có ý thức rõ về con người cá nhân của mình, có những hành động vì bản thân chứ không phải theo chức năng như trước. Những nhân vật có cái tên của truyện cũ nhưng sống suy nghĩ và hành động là của con người hiện đại.
4. Ngoài một số chuyện viết lại chỉ sử dụng các yếu tố có trong một truyện cổ để làm vật liệu tạo nên tác phẩm mới - một truyện ngắn hiện đại mang màu sắc cổ xưa, còn có một loại truyện khác sử dụng vật liệu được lấy từ nhiều truyện khác nhau để tạo nên một truyện mới, cùng thể hiện một chủ đề trung tâm. Các “nguồn vật liệu” này, có thể được lấy ở nhiều “xứ” khác nhau không liên quan đến nhau, nhưng khi được đặt cạnh nhau qua bàn tay tài hoa của các nhà văn thì lại hoà hợp lạ lùng. Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có hai tác phẩm tiêu biểu viết theo phong cách này: Chút thoáng Xxuân Hương và Những ngọn gió Hua Tát. Chút thoáng Xuân Hương gồm những câu chuyện khác nhau đều có hình bóng của Xuân Hương, Xuân Hương không xuất hiện trực tiếp, nhưng mọi vấn đề trong tác phẩm đều thể hiện qua cái nhìn của Xuân Hương - một người tài năng, giàu cá tính. Sự tồn tại của nàng giúp người ta hiểu đời và biết vượt lên cái phàm tục, gian trá đầy rẫy trong cuộc đời để con ngươi ta biết phân biệt lẽ phải , vượt qua, chối bỏ đi những cái phàm tục khinh bỉ mà vươn lên. Xuân Hương như là hơi rượu thơm, là đoá hoa ngát hương trên bàn thờ, là hơi ấm nước vối có mấy lát gừng thơm cay, là đĩa bánh trôi bốc hơi nóng. Trong truyện này Xuân Hương được nhắc đến trong những cảnh huống khác nhau, tác giả bộc lộ những nỗi niềm khác nhau để cùng làm cho chủ đề trung tâm của truyện được nhen lên giúp con người ý thức rõ giá trị chân thực của cuộc sống để không quên hi vọng vào lý tưởng và cũng không quá thất vọng trước những bế tắc của cuộc đời. Truyện thứ hai viết về những câu chuyện cổ ở bản Hua Tát, là một bản làng có những điểm đặc biệt, màu của huyền thoại vẫn đang bao trùm cả làng bản Những ngọn gió Hua Tát gồm có mười truyện đề cập đến một vấn đề khác nhau không mấy liên quan đến nhau, nhưng chính cái không liên quan đó lại chính là cái có vấn đề. Bởi vì hình ảnh của bản Hua Tát ở đây được xem như hình ảnh của đất nước Việt Nam, vì thế mọi vấn đề của đất nước đều được nói đến thông qua những câu chuyện cổ. Mỗi chuyện nói về những nỗi đau khác nhau: nỗi đau của một con người bé nhỏ, của một tập thể, của cả một thế hệ tất cả đều được tái hiện qua những con người cụ thể ở bản Hua Tát . Những con người ấy đó nay không còn nữa, họ đã là đất là gió - những ngọn gió quẩn quanh chân nhà sàn và trên cả những đồi nương. Các nhân vật trong truyện ít có người nào có kết thúc tốt đẹp, người không bỏ mạng thì cũng phải đi xa, nhưng đó là những con người ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Cảnh đời thì nhiều lắm, chuyện kể về những cảnh đời ấy đã trở thành chuyện cổ, trở thành những việc đã qua mà khi nghe lại chúng ta không thể can thiệp gì vào đó được nó làm cho ta như được soi sáng hơn, hướng tới lòng cao thượng và tình người, vừa giữ được cho mình bản lĩnh, sức mạnh để không bị “say” lại vừa giúp ta giữ lại được những gì thuộc về mình không bị lấy đi mất. Tuy mỗi truyện thể hiện một chủ đề riêng, nhưng mười truyện đó đều đều hướng đến thể hiện đầy đủ những đặc trưng cũng như sự việc đã diễn ra trong một thời của bản Hua Tát hay một thời của đất nước Việt Nam. Với những thành công và thất bại, những cái được cái mất và làm cho ta bình tĩnh và suy ngẫm.
Truyện Nhân sứ, của tác giả Hoà Vang gồm có ba truyện, mỗi truyện cũng nói về một chủ đề, nhưng đều toát lên một chủ đề chung, tìm ra một nhân sứ - một nhân chứng của cuộc đời, tìm ra lẽ sống chân chính, nó không ở đâu xa mà ở gần ngay trong cuộc sống trong mỗi con người, chỉ có điều phải sáng suốt, tĩnh tâm mới nhận ra điều đó. Nỗi niềm băn khoăn trước sự đời đó cũng được tác giả Lê Minh Hà thể hiện trong truyện Ới ơi dâu bể gồm có bốn phần ghép lại: Viênan, Chử ơi, Những kẻ lạ, Thất thanh. Ở phần một và phần ba đều nói về những cặp trai gái thời hiện đại phần hai nói về mối tình Chử Đồng Tử và Tiên Dung, ở đó chúng ta thấy hình ảnh của Chử Đồng Tử và Tiên Dung thật mới mẻ, họ đến với nhau và sống với nhau thực tế hơn chứ không lung linh như trong truyện cổ tích chúng ta biết. Cả hai nhân vật đều có những nỗi niềm riêng, những tưởng sống trong nghèo thiếu mới khổ đằng này Chử sống trong cảnh đầy đủ mà không vui sướng được bao lâu, chàng buồn nhớ và thầm khát khao những cảm giác ngày xưa, sống tự do, phóng khoáng giữa đất trời, chẳng mong làm nên những điều cao xa, lớn lao mà chỉ muốn sống thật với lòng mình, những ước muốn bình dị không quá xa xôi. Phần bốn của truyện nhắc lại hai nhân vật này “Tiên Dung và Chữ Đồng Tử vẫn sống” ở một nơi xa lắm, nơi không ai còn phải ước mong gì. Bốn phần có vẻ không ăn nhập với nhau nhưng đều có một mối liên hệ, con người từ cổ chí kim đều không bao giờ thoả mãn hết những ham muốn của bản thân mình, hãy biết vừa lòng với những gì mình có. Các phần một, ba và hai bốn có sự đan xen bắc cầu với nhau tạo nên chủ đề chung của truyện.
5. Truyện ngắn viết lại “truyện cổ” không phải là kể lại cốt truyện cũ, mà trong đó các yếu tố của “truyện cổ” trở thành những vật liệu mà nhà sáng tạo sử dụng để phối trộn với những yếu tố hiện đại khác tạo nên một tác phẩm mới, trong các tác phẩm này những yếu tố như nhân vật, cốt truyện, tình tiết đều đã được xử lý và được đưa vào những môi trường mới. Các nhân vật có thể được giữ nguyên nhưng lại có diễn biến câu chuyện khác đi hoặc thêm bớt các nhân vật chính để có thêm những nhân vật mới khác. Ở một cách thức khác, câu chuyện không chỉ dừng lại ở kết thúc có hậu mà còn được viết thêm phần hậu truyện, ở phần sau đó các nhân vật trong truyện cổ thể hiện nhiều nỗi niềm không hài lòng của mình hay nhiều khi là lời tự bạch về những việc làm của bản thân, đồng thời tác giả thể hiện cách đánh giá của người đương thời về những yếu tố đã định hình. Nhìn chung các nhân vật đều đối thoại hoặc độc thoại bằng ngôn ngữ của con người hiện đại, những băn khoăn, suy nghĩ là của một con người ý thức rõ con người cá nhân của mình. Có thể vì thế mà loại truyện này đã tạo nên một chỗ đứng cho mình trên văn đàn cũng như gây ra ấn tượng mạnh, sôi nổi trong đời sống văn học đương đại.
Nguyễn Thị Minh Tâm
Nguồn: hoinhavanvietnam.vn
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
| < Trang trước | Trang tiếp > |
|---|
- 04/05/2009 09:15 - TRÌNH DIỄN TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN VÕ THỊ XUÂN HÀ
- 25/04/2009 20:55 - NHÀ VĂN 'CHÂN ĐẤT' KHÔNG ĐƯỢC VÀO HỘI
- 24/04/2009 11:57 - KHÔNG THỂ GỌI TÊN CẢM GIÁC HỖN ĐỘN MỖI LẦN VỀ QUÊ
- 21/04/2009 14:38 - Nhà văn Vũ Bằng: Người hay kể “tội” mình
- 17/04/2009 15:08 - Truy tìm... truyện trinh thám Việt Nam
- 08/04/2009 09:36 - Vấn đề xuất xử của nhà nho và sự phát triển trong thơ Tam nguyên Yên Đổ
- 05/04/2009 22:03 - ĐÔI LỜI VỚI ÔNG PHẠM XUÂN NGUYÊN
- 05/04/2009 21:53 - PHẠM XUÂN NGUYÊN - NGÒI BÚT KHÔNG HÈN
- 01/04/2009 15:30 - Nhà văn Võ Thị Xuân Hà giao lưu với các cây bút trẻ Huế
- 01/04/2009 10:30 - Ngâm thơ cũng lắm chuyện... kỳ
- 31/03/2009 15:37 - Văn đàn tĩnh lặng và bão gió
- 28/03/2009 10:30 - Làm sao để có nhiều tác phẩm chất lượng cao?
- 27/03/2009 17:14 - Bến Tre quyết tâm dựng lại tượng cụ Phan Thanh Giản
- 27/03/2009 16:13 - Truyện ngắn Việt Nam đi về đâu?












