Kỷ niện 100 năm ngày sinh của Nhà viết kịch Trúc Đường (1911 - 2011)
Hơn 40 năm về trước, khi ấy anh Trúc Đường dạy học ở một trường tư trong thị xã Hà Đông. Với vốn kiến thức sâu rộng, Ông giáo còm trường tư còn có tên là Nguyễn Mạnh Phác, dạy cả Văn và Sử được học trò rất yêu quý. Dạy ở đó một thời gian ngắn, anh Trúc Đường đưa Nguyễn Bính từ quê lên ở với anh. Anh muốn cho em mình có thời gian đọc thật nhiều sách vở. Nhưng Bính không thể ở yên, Bính theo nghiệp văn chương,chơi thân với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân , rồi lại còn cả lũ đàn em chúng tôi...Chúng tôi cứ dông dài đâu đâu đến lúc không đào ra được một miếng tử tế lại kéo về báo hại anh Trúc Đường.
Tất nhiên, thầy giáo trường tư hay ông ký công nhật Trúc Đường cũng chỉ có thể đãi được bữa cơm rau dưa hay mỗi người bát phở trộn cơm nguội chẳng hạn…
Ba năm trở lại Hà Đông
Người cũ cô Oanh má vẫn hồng
Tóc vẫn bỏ lơi răng vẫn trắng
Vẫn ngồi bên cửa liếc qua song
Mà vẫn vô tình với khách thơ…
Cái cô Oanh con cái nhà ai ở thị xã kia thật tình cũng chẳng ăn nhằm đăng đối gì với cuộc sống khó khăn từng ngày của bọn thật ngây dở này mà còn cả thơ, cả người cũng chỉ phất phơ đầu đường mà thôi. Thế mà như thật. Một hôm, vào lúc chập tối đương đi ở phố Hàng Bông. Nguyễn Bính bấm tôi: “ Oanh đấy! Oanh đấy!”. Trời ơi! Oanh! Thiên tình sử Ngậm miệng của Nguyễn Bính đương đăng từng kỳ trên Tuần báo thứ Năm: Tâm hồn tôi chỉ là bình rượu nhỏ… Rót lần rót mãi xuống nàng Oanh… Bây giờ gặp lại Oanh đây… Một cô gái mặt tròn như chiếc bánh đúc chít khăn sa tanh đen kiểu các cô gái bán cau khô, cô hàng xén chợ tỉnh mà cái thằng “khách thơ” Nguyễn Bính nào có quen biết gì người ta cho cam! Thế mà cứ rối rít anh em…
Quãng những năm 1940 đói rách quá, ở Hà Nội, cứ ăn bám anh em mãi không còn được, đành phải đi kiếm ăn nơi xa xôi. Lúc đầu, đi ba người, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can và tôi. Bạn bè lại phải làm một cuộc đưa Kinh Kha Sang Tần ở Ga Hàng cỏ lần nữa. Anh Trúc Đường cũng đi tiễn chúng tôi. Lần này những ba Kinh Kha quyết “đi không bao giờ về”.
Chúng tôi ghé xuống Thanh Hóa trước tiên. Ở Thanh lại ăn vạ anh em, đến nỗi bạn bè chán chê không kham nổi phải tống đi. Chúng tôi vào Huế. Vào Huế cũng sống vật vờ như ở Thanh. Thỉnh thoảng Nguyễn Bính gửi thơ về Hà Nội. Những bài thơ Xuân tha hương và Xuân lại tha hương Nguyễn Bính viết hồi ấy, Trúc Đường đem đăng báo Đàn bà rồi gửi tiền nhuận bút cho, được tiền nhiều nhất vì bài thơ dài Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính.. Nhưng thơ làm sao nuôi nổi người huống chi lại những ba người. Lang chạ, nhờ vả các bạn yêu thơ,. Rồi gặp may, có anh Nguyễn Đức Nùng đương dạy vẽ ở Huế. Thời ấy, ai đi làm cho nhà nước, đem so sánh với những nghề còm cõi khác, thì cũng gọi là ung dung hoặc tạm có máu mặt một chút. Chúng tôi đến" báo cô" nhà anh Nguyễn Đức Nùng được ít lâu.
Rồi cũng đến ngày phải đi khỏi Huế . Nhưng lần này, Vũ Trọng Can và tôi đã thoái trí lang thang cầu bơ cầu bất quá rồi. Hai đứa tôi trở lại Hà Nội. Rồi Vũ Trọng Can cầm tiền của người ta đem đi buôn vỏ dó làm giấy, lên Lạng Sơn, anh đã cờ bạc, hút sái hết cả tiền, sợ không dám về, cứ quanh quẩn trên ấy đến ốm ngã nước rồi chết. Chỉ có một mình Nguyễn Bính đi Sài Gòn. Không biết có phải chuyến ấy ghé Bình Định chơi với Yến Lan và hai anh đã cùng viết được kịch thơ Bóng giai nhân hay không. Năm sau, tôi lại gặp lại Nguyễn Bính ở Sài Gòn, chuyến này tôi có tiền lấy vé đi tàu suốt đàng hoàng. Ngày ngày ăn cơm thố, uống rượu quán cháo cá chợ Cũ – ăn uống hạng bét thời ấy, nhưng xem ra Nguyễn Bính có vẻ ung dung hơn. Không biết bạn anh còn những ai nữa, nhưng anh đưa tôi đến làm quen với Việt Châu – tác giả tập thơ Lông ngỗng gieo tình. Người anh của Việt Châu đi làm cho một hãng buôn Nhật có tiếng. Chúng tôi hẹn gặp nhau một chuyến đi Từ Liên rồi thôi, tôi trở về Hà Nội.
Tôi phải lan man “chuyện ngày xưa” một chút về Nguyễn Bính. Bởi vì làm sao mà hai anh em anh ấy khác nhau mà cũng giống nhau thế. Trúc Đường được học hết bậc Trung học thời Pháp. Nguyễn Bính, chẳng biết có ngồi xong cái lớp bét trường huyện không. Thật ra, mỗi người một tính, một nết, khác hẳn. Trúc Đường đứng đắn, chăm chỉ, mực thước, nhũn nhặn. Nguyễn Bính hoang toàng, khinh bạc, tự cho “tài mình đời phải cung phụng”, mà đời (bạn) không nuôi thì chửi. Bởi vậy, với Nguyễn Bính, chúng tôi thường cứ vừa thương yêu lại vừa giận. Anh Trúc Đường thật bao dung, thương em, quý tài em. Không khi nào anh Trúc Đường chơi bời phá phách như em, nhưng bao giờ anh cũng thương yêu em. chăm lo cho em. Có thế cho nên cả khi ở Hà Nội, chúng tôi mới theo được với Nguyễn Bính về ăn “phá nhà” của anh được.
Khi Trúc Đường thôi dạy học ở Hà Đông, tôi không nhớ năm nào anh ra Hà Nội làm tuần báo Ích Hữu với Lê Văn Trương. Làm báo, ở ban biên tập có lương hẳn hoi, chứ không phải chỉ gửi bài lai cảo thôi đâu. Anh còn dạy thêm chữ Pháp cho một người bà con trên phố Bờ Sông. Hồi ấy, tôi cũng đương tập tọng nghề Văn. Có thằng bạn nhà ở phố Bờ Sông, bảo tôi ông Mạnh Phác làm báo Ích Hữu đấy. Tôi đã phục lắm.
Ở báo Ích Hữu của nhà xuất bản Tân Dân, Trúc Đường gữi một mục, như kiểu mục “Lọng cụt cán” của Tam Lang báo Tin mới. Mỗi kỳ, anh khắc hoạ chân dung châm biếm, cười cợt một nhân vật xã hội. Anh ký tên thật là Mạnh Phác. Thỉnh thoàng, có in một truyện ngắn, kịch ngắn.
Ích Hữu ra đời được ít lâu thì báo chết. Trúc Đường tìm được việc sửa bài nhà in cho nhà in Lê Cường ở phố hàng Bồ. Anh thuê nhà ở Nam Tràng, chỗ những phố ngắn ngủi ở cái bán đảo nhô ra hồ Trúc Bạch trong Ngũ Xã. Tôi hay đi lại với Nguyễn Bính thời kỳ ấy, vì thế mới hay gặp anh Trúc Đường. Bởi cho tới khi anh đã già và tôi cũng đã già, làm sao tôi vẫn cứ cảm như chúng tôi đối với nhau vẫn như ngày ấy, anh ấy bao giờ cũng là anh bọn chúng tôi, không bao giờ trong công việc trước tác, anh ấy bàn với chúng tôi. Chúng tôi cũng không bao giờ hỏi. Chỉ biết với nhau là anh đi làm, có khi mình túng thiếu, cho mình nương nhờ được. Anh là nhà báo, nhà văn, có “học cao”, có nghề nghiệp. Bao giờ cũng nề nếp bậc anh, không kéo bè kéo lũ lông nhông chơi bời, chẳng khi nào “phùng trường tác hí” gì với chúng tôi cả. Chúng tôi kính trọng anh từ cung cách ăn ,ở, đi, đứng... Đi làm đúng giờ giấc. Về nhà, ngồi vào bàn, đèn sáng, đọc sách, viết văn.
Tôi cũng chỉ biết có thế, nhưng một điều tôi biết từ ngày ấy, anh đã viết kịch. Và viết nhiều. Tôi đã trông thấy bản thảo những vở kịch dài từng tập giấy trên bàn anh. Hồi này, Vũ Trọng Can đương viết truyện ngắn. Thấy Trúc Đường viết kịch, anh chàng này cũng học đòi. Nhưng rồi thế nào mà kịch Biểu lận của Vũ Trọng Can được diễn ở nhiều nơi. Vũ Trọng Can lại có cả một cái kịch dài, vở Cái vạ in nhiều kỳ trên báo Ngày nay của Tự lực Văn đoàn.
Những năm trước 1945, Trúc Đường kiếm sống bằng nghề sửa bài in cho nhà in Lê Cường. Anh còn kiêm làm báo Đàn bà. Cũng là tình cờ. Chỉ vì báo Đàn bà in ở nhà in Lê Cường.
Nói về cái nghề làm báo ở Hà Nội mấy năm rối ren ấy thật phức tạp và mỉa mai. Phức tạp vì những âm mưu quỷ quyệt của Pháp, của Nhật, bọn nào cũng có tay chân, có mưu đồ khác nhau. Mỉa mai vì thời ấy phần nhiều làm báo cũng như đi buôn chạy hàng xách. Lắm người làm như thế.
Theo luật lệ của thực dân Pháp, có ra báo mới được mua giấy theo giá quy định (rẻ hơn giá chợ đen). Nhiều người xin phép ra báo, mua được giấy bán ngay giấy đi, chỉ tìm cách sắp chữ in vài tờ gửi lưu chỉnh. Báo Đàn bà không hẳn làm như thế! Nhưng nó cũng chỉ in số lượng rất ít. Chủ báo đem bán buôn cho lái. Trên báo Đàn bà có một mục lạ kiểu hơn tất cả các báo lúc ấy. Đấy là mục nhắn tin mua hàng hộ bạn đọc. Các bà các cô đọc báo Đàn bà có thể là người phong lưu, có người ở tỉnh xa, gặp thời buổi chiến tranh, cái gì cũng khan hiếm, son phấn vải vóc và mọi thứ trang sức đều hiếm, khó tìm khó mua. Báo Đàn bà đứng ra làm việc ấy, làm môi giới hoặc mua hộ rồi thiến tiền hoa hồng. Cái mục mua hàng giúp bạn đọc mỗi kỳ dài mấy cột chứ không ít.
Chủ báo Đàn bà thuê Trúc Đường cáng hai trang văn thơ của báo. Vì vậy, thời kỳ này, dù ở Huế hay ở Sài Gòn, hầu hết thơ Nguyễn Bính đều đăng báo Đàn bà ở Hà Nội.
Hồi ấy, Trúc Đường viết truyện. Nhà xuất bản Lê Cường đã xuất bản tiểu thuyết Nhan sắc của Trúc Đường. Trên báo Đàn bà, in nhiều truyện ngắn và in từng kỳ tiểu thuyết Sen tịnh đế của Trúc Đường.
Ngày nay, Trúc Đường là một tác giả nổi tiếng về kịch đề tài lịch sử của văn học cách mạng Việt Nam. Nhưng ngày ấy, kịch chỉ là một nghề chơi. Ở thành phố, mà cũng chỉ Hà Nội là chính, người ta chơi kịch chứ làm gì có nghề kịch, nghệ thuật kịch. Mà nghề chơi thì đến tay chơi lọc lõi như Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ còn chật vật, huống chi chân chỉ hạt bột như Trúc Đường, mọc mũi sủi tăm làm sao.
Có người bây giờ cứ nghe mang máng ngày xưa mỗi năm, những đêm mở đầu mùa kịch, (mùa thu, như bên Tây!) các tác giả kịch mời bè bạn đi xem tổng diễn tập, không khí huy hoàng, phấn khởi làm sao! Tôi cũng là bè bạn một vài tác giả như Vũ Hoàng Chương, Vũ Trọng Can, có được hưởng ít nhiều cái “hân hoan” ấy trong đêm mở đầu mùa kịch. Tôi cũng nghĩ bây giờ ta nên cải tiến sao cho những đêm duyệt kịch phải là những đêm làm việc mà vui, thật vui – như là đêm chờ đợi đứa con ra đời.
Nhưng tôi cũng phải kể thêm là không phải “ngày xưa” mở màn mùa kịch chỉ có náo nức, tưng bừng rồi rủ nhau “xuống xóm”. Cái tưng bừng ấy phần nhiều cũng chỉ là nguyện vọng và tấm lòng của các tác giả và bè bạn ao ước mà thôi. Còn phải kể đến một việc tày đình phải lo, đấy là Tây có nhòm ngó tới và có cho qua hay không. Còn nhớ, năm ấy, mấy anh em chúng tôi ở trong làng hay tổ chức những đêm kịch cỏn con ở sân đình. Chúng tôi diễn vở Toà án lương tâm (tôi quên tên tác giả) và vở Không một tiếng vang của Vũ Trọng Phụng. Năm trước, diễn Biển lận của Vũ Trọng Can và Gái không chồng của Đoàn Phú Tứ, người xem đông và mọi sự đều ổn. Còn lần này, quan đồn Yên Thái không để yên cho. Đêm ấy mà không buông phông sớm rồi chuồn đi (vì có một chú lính khố xanh tốt bụng ra mách nhỏ), nếu cái nhân vật lão già loà mắt lại ốm nặng của Vũ Trọng Phụng cứ nằm còng queo giữa sân khấu mà kêu khóc, mà chửi rủa thêm lúc nữa, thì cái chắc bọn chúng tôi cũng phải vào đồn đêm ấy. Chỉ là lão giám binh đồn khố xanh mà đã có thể tóm cổ mình được, còn đến mật thám duyệt vở duyệt sách thì bỏ tù mình như bỡn chứ gì.
Ấy, mặt nọ còn có mặt kia là thế đấy.
Cái khó nghề kịch ngày ấy, đã không kiếm ăn nổi lại còn nỗi người ta có để yên cho hay không, như thế, làm sao có Trúc Đường được. Mà chỉ từ khi cách mạng, Trúc Đường mới trở lại viết kịch và thực sự trở thành kịch tác gia.
Trong kháng chiến toàn quốc, Trúc Đường về quê ở Nam Định. Anh làm báo Công dân của Uỷ Ban Kháng Chiến tỉnh. Các bạn cùng làm báo Công dân và cùng ở Chiến khu Ba với Trúc Đường, các anh Lộng Chương, Phạm Lê Văn, Trần Lê Văn, Bùi Hạnh Cẩn…đã gần gũi và công tác cùng, biết nhiều về Trúc Đường thời kỳ ấy.
Mặt trận lan rộng, cuộc kháng chiến trên vùng đồng bằng sông Hồng cứ gay gắt dần lên. Theo đuổi kháng chiến hay trở về các thành phố bị tạm chiếm, mỗi người công dân đương đứng trước một thử thách lớn. Một số văn nghệ sĩ như Vũ Chương, Đinh Hùng đã bỏ về Hà Nội trong những giờ phút gay go này.
Tôi nghe tin anh Trúc Đường đã thoát khỏi những cuộc càn quét của địch và vượt qua đường số 6 dày đặc đồn bốt địch chạy được lên Thái Nguyên. Ít lâu sau, được tin rõ hơn, anh Trúc Đường đã cùng vợ con lên cư ngụ ở trong vùng đồi huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên trong vùng căn cứ đặc biệt Việt Bắc. Rồi ốm sốt rét dòng dã cả năm trời. Nhưng anh Trúc Đường và vợ con đã ở Đồng Hỷ suốt cho tới kháng chiến chống Pháp thành công. Nhà anh Trúc Đường đã cùng với gia đình một người em làm ruộng sinh sống. Đồng đất bán sơn địa, không thể mỗi chốc làm chơi ăn thật như dưới đồng bằng. Ruộng trằm, ruộng độc, đất hoang. Bà con trong làng nhường cho một phần, vợ chồng anh em bỏ công khai phá thôn. Nơi cấy lúa nước, lúa nương, nơi trồng chè, trồng thuốc lá. Cuộc sống ruộng vườn chợ búa qua ngày, nhà tranh vách đất. Có lẽ hai chữ tên biệt hiệu “Trúc Đường” của anh lúc này mới thật đắc ý với anh, như mọi nhà trong cuộc kháng chiến, vợ con anh em Trúc Đường đã gánh vác nhiệm vụ bình thường và bền bỉ, kiên nhẫn của một người công dân chân chính cũng như cả triệu triệu công dân từ Nam chí Bắc trong đất nước đã theo tiếng gọi của Đảng đi kháng chiến.
Thắng trận Điện Biên Phủ, Hà Nội được giải phóng, Trúc Đường trở về Hà Nội. Hình ảnh một người anh chân chỉ, đức độ từ ngày nảo ngày nào ở Ngũ Xã , tới hôm nay, tôi vẫn hình dung ra nguyên như thế.
Nhớ như thế, tôi lại nhớ Trúc Đường đã đeo đuổi việc viết kịch từ thời trai trẻ. Có lẽ những vở kịch viết ngày ấy, anh đã vứt đi cả rồi, nhưng tuyệt nhiên không phải ngẫu nhiên khi có tuổi anh với viết kịch. Kịch là một thể loại văn học anh đã say mê từ khi mới cầm bút.
Nhưng chỉ đến khi sân khấu cách mạng đã đưa nghệ thuật và thể loại kịch Việt Nam trở thành một vũ khí lợi hại trên mặt trận tư tưởng trong cuộc chiến đấu toàn diện với chủ nghĩa đế quốc bấy giờ, sân khấu cách mạng mới cho Trúc Đường đạt được nguyện vọng của cả đời mình. Nếu như trước kia, kịch chỉ là chơi kịch, dẫu cho nghề chơi cũng lắm công phu, thì cũng bèo giạt mấy trôi thế thôi, không bao giờ có thể có được Trúc Đường được.
Trúc Đường, con người với quyết tâm và sự dùi mài của anh đã gặp sân khấu cách mạng, đã tạo thành một kịch tác gia Trúc Đường của đề tài lịch sử trong nghệ thuật sân khấu và sân khấu cách mạng.
***
Còn nhớ một đêm, vở Tấm vóc đại hồng của Trúc Đường diễn ở hội trường Ba Đình. Có lẽ đêm ấy tác giả hào hứng lắm. Anh giục tôi phải đi xem.
Nửa đêm ra về, trên đường Điện Biên Phủ lá đa rụng xào xạc thành tiếng lẫn ánh điện và bóng trăng. Tôi nhận ra sức mạnh sáng tạo của Trúc Đường sở trường dựng được những nhân vật khá lớn Trần Thủ Độ, Lê Hoàn, Quang Trung…, những quang cảnh lớn bằng Hội thề Đông Quan, cuộc tụ nghĩa Lam Sơn, điện Diên Hồng. Đề tài và người viết, như cá gặp nước. Trúc Đường đặt ra được nhiều giải đáp mới cho lịch sử, nổi bật như vấn đề Dương Vân Nga.
Tôi còn thấy những vương vấn, bâng khuâng, những thiết tha thấp thoáng bóng trúc, ngõ tre, bến nước đò ngang. Một cô gái canh cửa. Một ông tiều. Một quán nước bên đường, những vai phụ, một cảnh thoáng qua, ví như một nét nhướn mày của người đàn bà họ Dương vốn kiên nghị, tài sắc.
Nhưng tôi lại tưởng như đấy cũng là, đấy mới là, đấy có tâm sự người viết. Người viết nào chẳng gửi tâm sự vào sáng tác của mình niềm vui, nỗi hờn của tâm sự, của tấm lòng vào một cảnh, một vấn đề trong sáng tác. Cái lớn của sự sáng tác được góp lại từ một mảnh chấu, một hạt kê vì từ những đam mê những thương cảm đến không bao giờ nguôi của người nghệ sĩ. Người viết nào chẳng vậy. Với Trúc Đường, cái tên của hình ảnh vách trúc nhà tranh đơn chiếc ước mơ. Khóm trúc thêu tuôn dòng lệ cũ. Con thuyền… đấy là Trúc Đường ư?
Một hôm, tôi nói với anh như vậy. Anh cười hiền lành như mọi lúc, rồi bảo tôi: “Thằng này thế mà quái quỷ.” Tôi hiểu có thể là anh có ý khen tôi.
Alger Tháng tư năm 1983
Tô Hoài
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Nhạc sĩ “Trường Sa” Lê Mây: Chàng nhà quê bỏ phố
- Rạp chiếu phim di động của lão nông làng lụa
- Để nghệ thuật truyền thống sống cùng cơ chế thị trường
- Lịch sử kịch Noh
- Trịnh Công Sơn và ba “mối tình” đặc biệt
- Chuyển thể "Truyện Kiều" thành nhạc kịch: Tôn vinh tác phẩm văn học sáng giá của Việt Nam
- Hình tượng người chiến sĩ an ninh trên kịch trường Hà Nội
- Nhạc sỹ Phạm Tuyên: hai tiếng và cả cuộc đời
- “Cây búa” Nguyễn Hoà: Ai đó đừng biến giải thưởng thành “chiếc bánh” để chia chác
- Những bài ca làm rung động hàng triệu con tim













