(Chuyện về ông Đỗ Quang Toàn, nguyên Vụ trưởng Vụ dầu khí Văn phòng chính phủ, giám đốc Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ)
Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một cán bộ ngành dầu khí nho nhã và tự tại đến thế. Sau mấy cuộc điện thoại hẹn gặp là bề bộn công việc giữa người viết và người “trong cuộc”. Buổi chiều đầu năm khá oi ả, xen lẫn những tin tức về những vệt dầu loang tràn khắp bờ biển một số tỉnh miền Trung, ông tiếp tôi trong sảnh tiếp khách của toà nhà riêng bề thế nhưng khá khiêm tốn lẫn giữa những toà nhà của một khu tập thể.
Chúng tôi nói nhiều về những chuyện dầu lửa trên thế giới. Về chiến tranh dầu lửa. Về giá dầu đã lên đến 65usd/b (tức =1thùng=156 lít).
Và ngay tại thời điểm này, thời điểm mà bài viết về ông đang dần hình thành từng câu chữ, bản thông báo trên VTV1 báo tin nóng: chỉ một tiếng nữa, giá xăng dầu tăng 800đ/1lít!
Câu chuyện ông kể về cuộc đời mình, về sự gắn bó với ngành dầu khí của chính ông và gia đình dường như trải dài cùng những thăng trầm theo năm tháng của ngành dầu khí Việt Nam…
Tôi người Hải Phòng. Học hết cấp ba, thi đỗ vào trường đại học Tổng hợp khoa Hoá. Một mình lên Hà Nội học với bao ước vọng đầu đời, lớ ngớ lộc ngộc nhưng cũng biết xác định cho mình những hoạch định cụ thể. Học hết mấy năm đại học thì tôi lấy vợ. Tình yêu thuở đó giản dị và bền vững. Một lời hẹn cũng đủ để chờ đợi nhau cả đời. Một chiếc khăn tay tặng cho nhau, đủ để người ra chiến trận thương nhớ, bền lòng. Vợ tôi người Hà Nội, là người – không biết nên nói về cô ấy như thế nào nhỉ - đại để, sau này trong cuộc sống gia đình, thời bao cấp tem phiếu, tiêu chuẩn của tôi đã đạt đến chuẩn phiếu C, nhưng tôi chẳng biết ô nào mua gì, cũng chẳng bao giờ phải đi xếp hàng rồi chờ cô mậu dịch viên quát nạt cắt mấy cái ô phiếu ra rồi cân cho một thứ rau, thịt hay gạo mắm gì đó. Tất cả mọi thứ mua sắm, chi tiêu lo toan chợ búa trong nhà, một tay vợ tôi lo cả. Đến cả nuôi con, thời chiến tranh tôi đi suốt, cũng cô ấy nuôi là chính. Vợ tôi cũng là cán bộ nhà nước, làm bên ngành địa chất cho đến khi về hưu. Tôi nói với vợ tôi rằng cô ấy là người chung thuỷ, chồng chỉ một mà nghề cũng chỉ một.
Tôi ra trường được nhận về làm ở Tổng cục địa chất.
Mùa hè năm 1966, đang làm việc tại phòng thí nghiệm hoá, công việc chủ yếu là phân tích các nguyên tố kim loại trong các mẫu quặng địa chất của Tổng cục địa chất ( số 6 phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội) thì tôi được điều động đi Liên đoàn 36 Dầu khí ở Hưng Yên. Ở đó có chuyên gia Liên Xô mới sang công tác để chỉ đạo về việc lập phòng thí nghiệm phân tích các thông số phục vụ cho việc nghiên cứu tìm kiếm, thăm dò đánh giá tiềm năng về dầu khí ở miền Bắc Việt Nam. Liên đoàn 36 là Liên đoàn về địa chất, địa vật lý dầu khí đầu tiên của Việt Nam, thuộc Tổng cục Địa chất. Đi cùng tôi còn có anh Nguyễn Văn Hoàng, cùng tốt nghiệp Khoa Hoá phân tích Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
Không ai có thể tính trước được cụ thể các bước đi của mình trong cuộc đời và sự nghiệp. Dường như là một sự may mắn, hay sự sắp xếp định trước của số phận. Thời điểm đó, tôi đã bước chân vào ngành dầu khí và gắn bó với ngành mãi mãi.
Thời kỳ những năm 66, 67, phải đi xa Hà Nội, xa gia đình, sống và làm việc ở nơi sơ tán của Liên đoàn với nhà tranh vách đất, với những khó khăn về phương tiện và điều kiện làm việc… là một thách thức lớn với riêng tôi và là tâm lý chung của nhiều cán bộ khi phải rời xa môi trường làm việc quen thuộc. Tôi thì lo vợ một thân một mình cáng đáng việc nhà, lại lo máy bay oanh tạc Hà Nội. Hiểu điều đó và thật tâm lý, đích thân Tổng Cục trưởng Tổng Cục Địa chất Nguyễn Văn Điệp đã gặp riêng hai anh em chúng tôi để giao nhiệm vụ và động viên tinh thần. Chúng tôi đã vui vẻ lên đường.
Cũng như nhiều đơn vị cơ quan khác, đặc biệt là những đơn vị cơ quan ở Hà Nội, trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, Liên đoàn 36 không đóng trụ sở cố định được ở một chỗ mà cũng phải chạy chỗ này chỗ khác để tránh bom Mỹ. Những cơ quan hành chính sự nghiệp thì đỡ vất vả hơn vì chỉ di chuyển bàn ghế sổ sách… Nhưng đối với mộtc ơ quan nghiên cứu, có phòng thí nghiệm thì rất vất vả. Vì ngoài việc chọn được một chỗ có thể lập phòng thí nghiệm, dù là phòng thí nghiệm di động, còn phải có được nơi đặt dụng cụ thí nghiệm, cân vi phân tích, lò nung, tủ sấy… Điều tối quan trọng là phải có điện cao thế và phòng làm việc đủ điều kiện tối thiểu để làm việc. Chuyên gia thì phải có ô tô đi lại, có chỗ ăn nghỉ tương đối đàng hoàng, an toàn trong điều kiện rất nguy hiểm, bom Mỹ có thể xộc tới bất cứ chỗ nào trên mảnh đất hậu phương miền Bắc.
Rồi tất cả cũng vượt qua và kết quả phân tích cho các số liệu cũng đáp ứng được cho công tác nghiên cứu phục vụ các báo cáo đánh giá tiềm năng dầu khí của bộ môn kỹ thuật của Liên đoàn (với điều kiện có thể tại thời điểm đó).
Tôi đã bắt đầu gắn bó với ngành dầu khí như vậy. Cũng như bao anh chị em kỹ sư, kỹ thuật, các cán bộ quản lý khác của ngành, trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, ai cũng trải qua muôn vàn khó khăn, không ở dạng này thì ở dạng khác. Với riêng tôi, đó là những năm tháng không thể nào quên.
Chiến lược của Đảng và Nhà nước là vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng kinh tế chuẩn bị cho tương lai. Việc đào tạo chuẩn bị cán bộ cho ngành dầu khí rất được quan tâm. Tôi cũng được nằm trong số những anh chị em cán bộ đó. Năm 1972, ngay trong thời kỳ chiến tranh ném bom phá hoại miền Bắc rất ác liệt của đế quốc Mỹ, Tổng cục Địa chất đã cử một đoàn gồm 17 anh em có trình độ đại học đủ các ngành nghề, tập trung học thêm tiếng Pháp, sau đó đi thực tập nghiên cứu tại Học viện dầu lửa Algérie và Công ty dầu khí quốc gia Soratrach thuộc nước Cộng hoà Dân chủ Algérie trong 2 năm 1972-1974.
Lúc đó vợ tôi đang có con nhỏ. Ngày tôi lên tàu đi Hà Nội (rồi từ Hà Nội đi Bắc Kinh, từ Bắc Kinh đi Maxcơva để rồi bay sang Algérie), vợ tôi đi từ Hà Đông (nơi cơ quan cô ấy sơ tán) đến gặp và tiễn tôi lên tàu. Tàu chuyển bánh, tôi nhìn xuống thấy vợ nhỏ nhoi, lòng dội lên câu thơ Nguyễn Bính viết “Có lần tôi thấy một người đi/ Tiễn một người đi một buổi chiều…”. Tự hứa sẽ cố gắng ở nơi xa xôi kia để không phụ lòng anh em cấp trên tin cậy, cũng để không phụ công vợ con gia đình. Mà ngày ấy lý tưởng thanh niên phơi phới lắm. Không rành mạch thực tế như bây giờ. Trong tâm trí lúc nào cũng có những cảm giác thật ấm áp, sôi nổi, mong muốn cống hiến hết mình cho đất nước, cho lý tưởng chủ nghĩa xã hội.
Hai năm trời ở nước bạn chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều. Cũng rất nhiều điều mới lạ về ngành dầu khí trên thế giới mà lúc bấy giờ đối với Việt Nam rất hệ trọng cho chiến lược tương lai.
Khi học xong về nước, chúng tôi lại tiếp tục làm việc tại Viện Dầu khí Việt Nam, lúc này trụ sở đóng ở Hưng Yên. Tôi vẫn làm việc tại phòng thí nghiệm với cương vị Trưởng phòng.
Phòng thí nghiệm lúc này được trang bị hơn nhiều so với thời kỳ sơ tán trước đây. Thời kỳ này Tổng cục Dầu khí đã được thành lập theo quyết định của chính phủ (9/1975). Ngành dầu khí Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển biến mạnh, không những tiếp tục tìm kiếm thăm dò ở miền Bắc mà còn triển khai ngay các hoạt động tìm kiếm thăm dò ở miền Nam mới giải phóng, đồng thời cũng bắt đầu hợp tác với nước ngoài.
Năm 1977, Tổng cục Dầu khí cử một đoàn gồm 2 người của Viện Dầu khí Việt Nam do đồng chí Trần Xanh-Viện trưởng làm trưởng đoàn và tôi (do biết tiếng Pháp), sang Học viện dầu lửa Pháp – IFP để nghiên cứu cơ cấu tổ chức, các trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu phân tích, tìm hiểu các bộ môn chuyên môn của Viện và đặc biệt tạo mối liên kết hỗ trợ lẫn nhau trong nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất và kinh doanh. Trong ba tuần làm việc tại Học viện đã cho tôi nhiều bài học bổ ích về chức năng nhiệm vụ của một Viện chuyên ngành về dầu khí; đặc biệt là bộ phận đào tạo (trường trong Viện), chuyên đào tạo các chuyên gia tầm cỡ quốc tế cho ngành dầu khí với đủ mọi ngành nghề cần thiết. Học viên được tuyển vào trường của IFP là những người đã tốt nghiệp ưu tại các trường đại học thuộc các ngành kinh tế kỹ thuật. Nhà trường sẽ đào tạo họ thành những nhà kinh tế kỹ thuật có chuyên môn cao trong ngành dầu khí. Chính vì vậy ai đã tốt nghiệp ở IFP ra thì đi đâu trên khắp thế giới cũng “đắt giá”. Một nghịch lý là Pháp không có mỏ dầu nào, nhưng trình độ công nghệ khai thác chế biến dầu mỏ lại đứng vào hàng đầu trên thế giới. Rất nhiều chuyên viên các nước được đào tạo bài bản tại đây, rồi ra trường đi các nơi làm chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực khai thác, chế biến dầu.
Chuyến đi nghiên cứu khảo sát này cũng mở đầu cho quan hệ hợp tác của Học viện dầu lửa Pháp và Viện Dầu khí Việt Nam sau này.
Năm 1982-1984 tôi được cử đi học Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Một số người thường cho rằng chính trị là khô khan, cứ chuyên môn giỏi là được. Nhưng nếu chuyên tâm nghiên cứu những vấn đề về triết học, về chủ nghĩa xã hội khoa học, về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, về quy trình lịch sử, về kinh tế chính trị học…thì sẽ thấy càng học càng thấy mình còn hổng nhiều. Bản thân tôi cũng vậy, hai năm học tập có hệ thống đã giúp tôi nhiều trong việc hiểu và vận dụng thực tế những điều đã học. Hơn nữa đây là dịp để tôi có được những hiểu biết và kinh nghiệm quản lý, rất cần cho công tác sau này của tôi.
Do hoàn cảnh lịch sử của cả dân tộc, lớp người tri thức như chúng tôi thời đó không thể định trước tính trước bước đường đi trong cuộc sống và sự nghiệp của mình. Tôi xác định bất cứ công việc nào được phân công, trước tiên hãy cứ làm tròn trách nhiệm, rồi việc gì đến sẽ đến.
Tôi là người sống rất có kỷ luật. Nhớ ngày ở quê nhà khi còn đi học, nhà ở Hải Phòng nên thời đó dù mọi người chưa nghĩ đến chuyện du lịch biển, nhưng lũ trẻ chúng tôi thì rất thích ra Đồ Sơn chơi. Tôi xin phép mẹ cho đi chơi Đồ Sơn hôm đó với bạn bè, mải chơi đêm đến lúc nào, bạn bè bảo thôi ngủ lại với biển, nhưng tôi cương quyết đạp xe về một mình, thời đó đã làm gì có điện thoại nên tôi sợ mẹ ở nhà lo lắng, sợ chính mình sống không có kỷ cương.
Có lẽ vì vậy mà cấp trên đã rất tín nhiệm tôi trong công tác quản lý. Năm 1984 tôi được bổ nhiệm Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Tổng cục Dầu khí và được phân công theo dõi riêng về quan hệ hợp tác với Liên Xô trong Liên doanh dầu khí “Vietsovpetro”. Được gần 3 năm thì Tổng cục điều tôi về làm Chánh Văn phòng Tổng cục Dầu khí. Ba năm sau, vào cuối năm 1989, Tổng cục lại bổ nhiệm tôi làm Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế Tổng cục Dầu khí. Tháng 3 năm 1990, Tổng cục Dầu khí sát nhập với Bộ Công nghiệp nặng. Tôi được bổ nhiệm Vụ phó Vụ hợp tác quốc tế của Bộ, trong Vụ tôi được phân công phụ trách toàn bộ mảng dầu khí Việt Nam.
Thời gian công tác tại Bộ Công nghiệp nặng cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Cơ khí luyện kim được coi là ngành quan trọng nhất lúc bấy giờ. Tôi được làm việc với Vụ trưởng Nguyễn Xuân Chuẩn là người ở bên cơ khí luyện kim sang. Ông là một Vụ trưởng rất linh hoạt và đức độ, các Vụ phó đều được tự mình quyết định phần việc mình phụ trách, cuối năm gặp Vụ trưởng chỉ liên hoan, tự rút kinh nghiệm, chứ không có phê bình nặng nề. Chính nhờ không khí và cách quản lý mở ấy mà anh em làm việc rất có hiệu quả, phát huy được trí tuệ cá nhân và cũng hoà đồng đóng góp được cho công việc chung trôi chảy.
Không biết có phải là cơ may hay là cái duyên của cuộc đời, vì tôi vừa là Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế phụ trách mảng dầu khí của đất nước, đồng thời là uỷ viên Hội đồng Xí nghiệp liên doanh “Vietsovpetro”, được Bộ trưởng Trần Lam cử làm Trưởng đoàn chuyên viên phía Việt Nam đàm phán với Đoàn chuyên viên phía Liên Xô về Dự thảo sửa đổi Hiệp định giữa hai chính phủ trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa miền Nam Việt Nam, trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Liên Xô trong xí nghiệp liên doang “Vietsovpetro” và những thoả thuận liên quan. Xí nghiệp liên doanh “Vietsovpetro” là một liên doanh mà hai chính phủ đều rất quan tâm. Mọi sự bàn bạc liên quan đến quyền lợi của hai phía trong “Vietsovpetro” thường được thoả thuận trên cơ sở Hiệp định giữa hai chính phủ.
Mặc dù rất phấn khởi khi được giao nhiệm vụ nhưng tôi cũng rất lo lắng vì đó là công việc rất quan trọng nhưng cũng không ít khó khăn.
Việc sửa đổi Hiệp định đã nói ở trên được hai chính phủ đã ký từ năm 1981 là rất cần thiết vì nó chỉ phù hợp với tình hình và bối cảnh lúc đó nhưng về lâu dài thì không phù hợp, không đúng với thông lệ và tập tục dầu khí quốc tế. Tổng cục Dầu khí đã trình chính phủ và được chấp thuận cho bàn để sửa đổi. Cuộc đàm phán đầu tiên đã được khởi động từ năm 1988 giữa hai chính phủ. Phía Việt Nam do đồng chí Trương Thiên Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí làm Trưởng đoàn. Phía Liên Xô do đồng chí Thứ trưởng Bộ dầu làm Trưởng đoàn trực tiếp đàm phán. Các lần đàm phán tiếp theo do đồng chí Đào Duy Chữ làm Trưởng đoàn chuyên viên, bốn vòng đàm phán cuối cùng cho đến tháng 7 năm 1991 kết thúc do tôi làm Trưởng đoàn chuyên viên. Đồng chí Trần Lam Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng thay mặt chính phủ Việt Nam ký Hiệp định này với phía Liên Xô.
Tôi có nhiều ấn tượng đẹp với Bộ trưởng Trần Lam. Ngành dầu khí mới trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng khi Bộ được thành lập và ông là Bộ trưởng đầu tiên, lãnh ngay trách nhiệm lãnh đạo chỉ huy sửa đổi Hiệp định này ngay từ đầu năm 1990. Ông đã nắm bắt rất nhanh, hiểu và chỉ đạo rất sát các vấn đề đặt ra trong sửa đổi theo sự chỉ đạo của chính phủ. Đôi khi có những vướng mắc trong đàm phán không giải quyết được thì ông phối hợp với Thứ trưởng Trương Thiên (phụ trách dầu khí) gặp lãnh đạo đoàn phía Liên Xô là giải quyết được, và phía bạn lại rất thoải mái. Bài học tôi học được ở Bộ trưởng Trần Lam là sử dụng sức mạnh tổng hợp, sử dụng cán bộ là những người nắm vững vấn đề trong ngành dầu khí.
Hiệp định mới ký này phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế, và mô hình phân chia lợi nhuận của xí nghiệp liên doanh“Vietsovpetro” cho đến nay là kết quả của Hiệp định này.
Nhắc đến những vòng đàm phán mà tôi trực tiếp làm Trưởng đoàn phía Việt Nam, có những kỷ niệm mà tôi nhớ mãi.
Trong những lần đàm phán tranh luận rất căng thẳng về một số vấn đề, có lúc tôi im lặng để tranh thủ suy nghĩ thì phía bạn lại nhắc “đồng chí Toàn tiếp tục đi chứ”.
Có những vấn đề thuộc thanh toán ngoại thương, thanh toán công nợ giữa hai nước, bạn cũng muốn lồng vào việc lấy dầu để trả nợ. (Mặc dù thời chiến tranh, Liên Xô giúp ta vô điều kiện và là sự giúp đỡ vô giá, nhưng trong nền kinh tế hoà bình và trong đàm phán, quyền lợi hai quốc gia lại là sòng phẳng về vị thế). Tôi tranh thủ nhờ anh Lưu Văn Đạt là luật sư cố vấn pháp lý cho đoàn luôn luôn ngồi cạnh tôi phát biểu tranh luận giải thích. Tuy có căng thẳng trong tranh luận nhưng trên tinh thần hữu nghị sâu sắc giữa hai nước có từ nhiều năm, sự hiểu biết và thông cảm đặc biệt với nhau, mọi chuyện đều được giải quyết nhanh và tốt đẹp.
Đoàn Việt Nam có đầy đủ đại diện các Bộ, ngành, tôi luôn tranh thủ hội ý để nắm tình hình, tranh thủ được những ý kiến tối ưu, bởi khi ra đàm phán chỉ có Trưởng đoàn phát ngôn.
Trong các lần đàm phán, có đồng chí Tô Ngọc Thái (con trai thứ hai của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân) là chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Công nghiệp nặng rất giỏi tiếng Nga đã giúp chuyển ngữ Nga-Việt, Việt-Nga, nên hai phía rất nhanh chóng hiểu nhau về các vấn đề quan trọng, nhạy cảm. Phía Nga rất phấn khởi tin tưởng với sự hỗ trợ về ngôn ngữ trong đàm phán.
Thủ tường Chính phủ lúc đó là đồng chí Đỗ Mười rất quan tâm đến Hiệp định này. Mỗi vòng đàm phán giữa hai đoàn thường kéo dài một đến hơn một tuần, nhưng ngày nào vào buổi chiều Thủ tướng cũng gọi đồng chí Bộ trưởng Trần Lam lên báo cáo về tình hình đàm phán và tôi cũng đi cùng để báo cáo trực tiếp. Thủ tướng nghe, hỏi và luôn nhắc là phải bám sát các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế đã được chính phủ chỉ đạo để đàm phán, bảo đảm quyền lợi của nước chủ tài nguyên trong phân chia lợi nhuận.
Cuộc hành trình của tôi trong ngành dầu khí vẫn tiếp tục những bước đi mà tôi không tính trước được.
Năm 1992 ngành Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam)trực thuộc Thủ tướng chính phủ. Một số cán bộ ngành lại chuyển lên Văn phòng Chính phủ công tác. Vụ Dầu khí thuộc Văn phòng Chính phủ được thành lập và tôi được Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Lê Xuân Trinh bổ nhiệm làm Vụ trưởng đầu tiên của Vụ Dầu khí. Lúc bấy giờ các Vụ khác đều kiêm nhiều lĩnh vực. Nhưng dầu khí có riêng một Vụ ở “Phủ đầu rồng”. Phụ trách một Vụ chuyên ngành nằm trong Văn phòng Chính phủ, là cầu nối giữa ngành Dầu khí với Thủ tướng Chính phủ, tôi muốn tạo một nếp làm việc trong Vụ là nhiệt tình và trách nhiệm, không gây phiền hà, làm sao phản ảnh trung thực yêu cầu của ngành, thực trạng của ngành cho Thủ tướng Chính phủ nắm được và giải quyết kịp thời cho ngành. Cho đến nay Vụ Dầu khí vẫn là bộ phận giúp việc đắc lực cho Thủ tướng về lĩnh vực dầu khí, có uy tín với Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vể trách nhiệm, cách giải quyết vấn đề, phong cách làm việc.
Một điều vô cùng quan trọng là dầu khí Việt Nam cần có Luật chuyên ngành để điều chỉnh và đảm bảo các hoạt động. Nhận thấy tính chất cấp thiết đó nên Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã đề xuất với Chính phủ ra Luật. Công việc soạn thảo bắt đầu từ năm 1988 (khi đó tôi đang làm Chánh Văn phòng của Tổng cục), trải qua những giai đoạn tiếp theo khi thuộc Bộ Công nghiệp nặng, rồi khi về Văn phòng Chính phủ. Tôi là thành viên trong nhóm soạn thảo ngay từ những ngày đầu, rồi làm Phó ban Soạn thảo Luật dầu khí Việt Nam cho đến khi đồng chí Lê Xuân Trinh trình Dự thảo Luật Dầu khí Việt Nam lên Chính phủ, Chính phủ trình Quốc hội, và ngày 6 tháng 7 năm 1993 Quốc hội đã thông qua, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 19 tháng 7 năm 1993. Kể từ đó Luật đã đi vào cuộc sống, vào các hoạt động của ngành dầu khí Việt Nam.
Ấn tượng của tôi trong những năm tháng tham gia biên soạn Dự thảo Luật Dầu khí này là được giao lưu học hỏi, được đọc và tìm hiểu nhiều điều thuộc về tính pháp lý, tính kinh tế, thuế và những điều đặc biệt của tài nguyên chiến lược này của mỗi quốc gia.
Tại các nước có dầu lửa hoặc có công nghệ khai thác chế biến dầu mà tôi được đi tham quan khảo sát khi biên soạn Dự thảo Luật Dầu khí, người ta rất chú trọng đến Luật Dầu khí và các quy định có liên quan để quản lý nguồn tài nguyên quý giá này. Những điều tôi học được đã giúp cho tôi ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý; nếu có những dịp đàm phán với các công ty nước ngoài về hợp đồng dầu khí cũng như các vấn đề liên quan đến tài nguyên dầu khí luôn phải nghĩ đến quyền lợi tối ưu của nước chủ tài nguyên.
Những đóng góp nhỏ bé của tôi trong việc chuẩn bị từ đầu Dự thảo Luật cho đến khi được Quốc hội thông qua để có Luật Dầu khí Việt Nam, là niềm vui nhỏ của tôi trong quá trình tham gia hoạt động trong ngành dầu khí Việt Nam.
Có một sự chuyển biến và thay đổi của tôi, dưới con mắt của anh em bạn bè là “rất lạ lùng”, với riêng tôi đây là lần đầu tiên trong suốt sự nghiệp công tác tự mình quyết định hướng đi cho mình. (Vợ tôi luôn là người ủng hộ động viên tôi trong những bước đường của sự nghiệp).
Đang là Vụ trưởng Vụ Dầu khí của Văn phòng Chính phủ, đang làm việc rất tốt, có uy tín, một chức vụ mà có lẽ không ít người mong muốn có được, chức vụ đó đủ cho vợ con sáng giá trước mắt mọi người. Nhưng theo lời mời của đồng chí Hồ Sĩ Thoảng lúc đó là Tổng Giám đốc của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã mời tôi về làm Giám đốc Công ty Chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ trực thuộc Tổng Công ty, tôi có sự suy nghĩ làm biến chuyển sự nghiệp theo hướng mới. Năm lần bẩy lượt đồng chí Thoảng “tán” tôi và tôi đã “đổ”, đã chấp thuận về vị trí cơ sở này. Công ty được thành lập mới, trên cơ sở sát nhập Công ty Lọc hoá dầu và Công ty dầu mỡ nhờn (Vidamo). Đương nhiên tôi về sẽ ổn định lại tổ chức để kinh doanh. Mới đầu tôi cũng phân vân lo ngại lắm. Sau đó thì tôi quyết định thử sức mình, thay đổi môi trường từ quản lý sang kinh doanh. Có lẽ thời đại cũng là một nhân tố quyết định giúp tôi, thúc đẩy tôi. Kinh tế thị trường là bức tranh mới mẻ chưa thể nhận dạng định dạng được hết vẻ đa chiều của nó. Cần phải bước chân vào và thực sự đắm mình vào. Cũng có một lý do hết sức giản dị: tôi muốn đáp lại lòng yêu mến tin tưởng của anh em trong Tổng Công ty và cá nhân anh Hồ Sĩ Thoảng đã tín nhiệm tôi.
Khi về công tác ở Công ty mới, việc lớn nhất đầu tiên là ổn định tổ chức để tiếp tục kinh doanh và mở rộng diện hoạt động kinh doanh, xây dựng thêm cơ sở sản xuất. Với chức năng và nhiệm vụ mới của Công ty, Tổng Công ty Dầu khí VN lại giao thêm cho tôi kiêm Giám đốc Ban quản lý Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Lại thêm nhiều việc, đặc biệt giai đoạn đầu là giâi đoạn chuẩn bị đầu tư giải phóng mặt bằng cho nhiều nhà máy lọc dầu sau này ở một nơi xa xôi hẻo lánh miền Trung. Địa bàn hoạt động của Công ty trải khắp Bắc Trung Nam, từ Quảng Ninh đến TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cần thơ, Cà Mau. Tôi lại “trên từng cây số”, xa nhà như ngày còn chiến tranh.
Thú thực, trước làm quản lý, dù có cảm thông đến mấy cũng có tâm lý “bề trên”. Nay cuộc thử sức trong kinh doanh thật thú vị và cũng không kém phần gian khổ như các doanh nghiệp khác thời cơ chế thị trường. Một cuộc thử sức cam go, ở môi trường khác hẳn với lúc tôi ngồi ở ghế Vụ trưởng trên Văn phòng Chính phủ. Giám đốc thì càng phải đi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, phải coi họ là “thượng đế” thực sự. Với Dự án Dung Quất, tôi phải đi tiếp xúc với địa phương huyện Bình Sơn Quảng Ngãi để chuẩn bị địa điểm giải phóng mặt bằng cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, đi xin đất để xây dựng kho xăng dầu ở Cần Thơ, xin đất xây nhà máy sản xuất dầu nhờn ở Hải Phòng, xin đất xây các cây xăng kinh doanh…
Cuộc thử sức gian nan này cho tôi những bài học quý giá, đặc biệt bài học là làm kinh doanh không dễ dàng và đơn giản chút nào, từ đó tôi rất cảm thông và thương những người ngày đêm lăn lộn trên thương trường, trong khi nước ta vẫn còn lẫn lộn giữa cơ chế thị trường mới mở cửa và cơ chế bao cấp ăn sâu. Điều nữa, nếu cứ ngồi ở ghế quản lý thì nhàn nhã, nhưng cái nhàn ở đây là do không chịu đi thực tế tìm hiểu sản xuất kinh doanh, để biết cơ sở có khó khăn gì, cần làm gì để giúp họ trụ vững, mà doanh nghiệp trụ vững thì nền kinh tế đất nước mới vững, điều này bất cứ ai cũng đều hiểu được.
Cũng từ thực tế đó cho tôi một nhận thức sâu sắc, cũng là một đề xuất của kinh nghiệm cá nhân tôi, là nên luân chuyển cán bộ từ môi trường này sang môi trường khác trong cùng một ngành nghề, nhưng tuỳ từng công việc mà cân nhắc. Nhưng tổng thể là nên làm và làm thường xuyên.
Hơn 40 năm liên tục công tác(1966 - 1999), trong đó hơn 35 năm trong ngành dầu khí, sự đóng góp của các nhân tôi cho ngành dầu khí Việt Nam chỉ là hạt cát nhỏ nhoi trong sa mạc. Nhưng tôi cũng có chút tự hào vì những công việc đã làm được cho ngành dầu khí cùng anh chị em bạn bè đồng nghiệp, gắn bó với nhau trong những năm tháng gian nan của đất nước nói chung và ngành dầu khí nói riêng. Những năm tháng đó đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp, không thể phai mờ.
Cho đến giờ đã nghỉ hưu, nhưng tôi cũng chưa hề nghỉ ngơi, vì kinh nghiệm và kiến thức về ngành dầu khí của tôi cùng với năm tháng đã dày dặn lên. Hàng ngày tôi vẫn đi làm ở một công ty liên doanh về ngành dầu khí. Ở đó họ cần tôi trong lĩnh vực mà tôi đã có bề dày chuyên môn 35 năm.
Và hình như tôi cũng cần một nơi như thế để có thể cống hiến thêm chút nào đó cho ngành tài nguyên vô giá này của đất nước…
*
Ông đã dừng. Dòng hồi ức dường như vẫn còn tuôn chảy trong trái tim người từng có những thời gian làm cán bộ đầu ngành một ngành tài nguyên đặc biệt của những quốc gia dường như được “trời ban” này.
Tôi nói với ông rằng trong suốt câu chuyện mà ông vừa kể, bóng dáng của vợ con gia đình, thủa thiếu thời, mối tình thời trẻ tuổi phảng phất như hương hoa trong sự nghiệp thành đạt của ông… Ông cười kể với tôi cái ngày đi học bên Angiê, vợ mới sinh con không ở nhà chăm sóc được. Bây giờ các con ông đã trưởng thành, con trai cả Đỗ Chí Thành theo học kinh tế địa chất, nay đang làm ở bộ phận đối ngoại của Petrovietnam, con dâu là cháu ông Trần Hoàn, làm bên du lịch, mê đọc sách của các nhà văn trong nước lắm. Hai con gái một học kinh tế xây dựng của trường đại học Xây dựng,, một học kinh tế đối ngaọi của đại học Khoa học xã hội nhân văn. Cả hai đều về làm ở ngành dầu khí theo nghiệp cha và đều đã yên ổn, một rể làm ở Petrovietnam, còn một rể làm bên ngành xây dựng . Chuyện vợ chồng thì như bao người ở thế hệ của ông, yêu và luôn phải xa nhau vì hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, về già mới được sống gần nhau hàng ngày. Ông người miền biển Hải Phòng, có lẽ vì thế mà trời ban cho ông luôn được đứng trên những dàn dầu khoan giữa biển khơi. Ông sinh đúng vào thứ bảy, ngày 7 tháng 7 năm 1937, bốn số 7 làm nên cái mệnh may mắn của ông. Rồi ông đọc cho tôi nghe bài thơ ông mới sáng tác nhân sắp tròn 70 năm tuổi đời.
Sinh nhật tuổi bảy mươi
Quay đi quay lại đã bảy mươi
Có gái có trai chẳng kém người,
Cháu nội cháu ngoại đầy đủ cả,
Đích tôn cũng có kém chi ai.
Ngó lên nhìn đời không xấu hổ,
Nhìn ngang trông xuống chẳng thua ai,
Sức khoẻ trời thương cho cũng khá,
Ơn lộc trời ban hưởng tuổi già.
-Thứ bảy, 12/5/2007-
Võ Thị Xuân Hà (ghi lại)
Sơ lược Tiểu sử
Đỗ Quang Toàn
Sinh ngày 7 thang 7 năm 1937
Quê quán: Phường Dư Hàng, quận Lê Chân, TP Hải Phòng
Chỗ ở hiện nay: Nhà 20 ngách 4/26, ngõ 4, phố Phương Mai (Khu Văn phòngChính phủ), Đống đa, Hà Nội
Trình độ chuyên môn: Đại học (hoá học)
Trình độ chính trị: Cao cấp chính trị (Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc)
Các chức vụ đã kinh qua:
-Trưởng phòng Hoá Viện Dầu khí Việt Nam
-Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế Tổng cục Dầu khí
-Chánh Văn phòng Tổng cục Dầu khí
-Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Tổng cục Dầu khí
-Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Công nghiệp nặng
-Vụ trưởng Vụ Dầu khí Văn phòng Chính phủ
-Giám độc Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ kiêm Giám đốc Ban quản lý nhà máy lọc dầu Dung Quất giai đoạn chuẩn bị đầu tư
-Thường vụ Đảng uỷ Tổng cục Dầu khí
-Thường vụ Đảng uỷ Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Khen thưởng:
-Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng III
-Huy chương Vì thế hệ trẻ do TW Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tặng
-Nhiều bằng khen của các cấp chính quyền và Đảng.
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Dịch giả Đào Hữu Nghĩa: 50 năm, 1 đạo sư và gần 20 dịch phẩm
- Người Việt Nam đầu tiên dịch Sông Đông êm đềm là ai?
- Linh cảm của bà Vanga
- Ai là "người vợ miền Nam" trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Bính?
- Người con gái trong Màu tím hoa sim của Hữu Loan là ai?
- Vợ nhà văn Tolstoy và những trang nhật ký cô đơn
- Ứng xử với nghệ thuật - Ai đã sai lầm?
- Đau đầu tìm nhà đầu tư cho phim nghệ thuật
- Đằng sau trang viết













