Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Tin tức-Sự kiện >>> Vấn đề - Bình luận >>> Bác Hồ ngày ấy năm 1945

Bác Hồ ngày ấy năm 1945

In

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (05/06/1911 - 05/06/2011), TVVHĐ xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của tác giả Bích Thuận: Bác Hồ ngày ấy năm 1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945.

Phong trào chống Nhật lên cao. Ngày 15-8, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh không điều kiện. Cuộc mít tinh ngày 17 tháng 8 của Tổng Hội công chức bày ra để củng cố tinh thần công nhân viên chức, lập tức bị Việt Minh chiếm lấy diễn đàn, treo cờ đỏ sao vàng trước thềm nhà hát. Quần chúng ào ào theo Việt Minh, nhiệt liệt hưởng ứng những khẩu hiệu do Việt Minh đưa ra, reo hò vang đường phố. “Việt Nam độc lập muôn năm

Mặc dầu vừa qua một trận ốm nặng, Cụ Hồ quyết định về với nhân dân Thủ đô.

Nhân dân Thủ đô hân hoan đón Bác. Ngày ấy, trong ngôi nhà 48 Hàng Ngang, bà Trịnh Văn Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ được ông Nguyễn Lương Bằng, một cán bộ vẫn lui tới nhà bà, nói nhỏ:

- Gia đình anh chị là nơi bảo đảm an toàn nhất, là chỗ dựa mọi mặt của đoàn thể. Chúng tôi sẽ dời cơ quan thượng cấp về đây. Tất cả đều nhờ anh chị, chị cứ nói là khách ở trong quê ra.

Nghe anh nói, bà nghĩ ngay đến việc mở cổng sau thông ra 35 Hàng Cân cho cán bộ ta ra vào. Từ hôm đó, bà cứ thấy mấy anh nói đi đón “Mẹ về”. Rồi anh Trần Đăng Ninh hỏi nhỏ anh Nguyễn Lương Bằng:

- Bao giờ thì “Mẹ về” hả anh Cả?

Anh Nguyễn Lương Bằng đáp cũng rất nhỏ:

- “Mẹ về” tới làng gạ rồi, anh Văn (Võ Nguyên Giáp) đang báo cáo công việc với ông Cụ. Tôi sẽ đưa anh Trường Chinh lên đón “Mẹ về”.

Bà Minh Hồ biết đó là một việc rất hệ trọng, không dám hé ra với ai.

Nhưng bà tự hỏi: “Mẹ về”, vậy ai là “Mẹ”? Đấy là người nào mà các ông thượng cấp hỏi nhau việc đi đón “Mẹ về” rất cung kính và có vẻ như rất thiêng liêng nữa.

Và ngày 24 tháng 8 năm 1945, gác hai nhà 48 Hàng Ngang có một không khí rộn rịp khác thường, rất đỗi thầm kín. Từ chiều, ông Võ Nguyên Giáp đã nói với bà Minh Hồ:

- Tối nay nhờ chị nấu cho một nồi cháo, ít thôi. Ông Cụ còn bị sốt, ăn rất yếu.

Bà Minh Hồ ngỡ ngàng, tự hỏi: “Mẹ về” và “Ông Cụ” là một à?

Ngay chiều hôm ấy, ông Trường Chinh, ông Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Lương Bằng v.v... sắp xếp nơi làm việc, nơi nghỉ ngơi, ăn uống và cả tiếp khách trong tầng hai. Bà nghe thấy các ông nói với nhau:

- Để Bác vừa làm việc, vừa nghỉ một mình trên tầng ba cho yên tĩnh.

Một ông nói:

- Nhưng Bác không thích sống cách biệt anh em đâu.

Ông Giáp lại nói:

- Vậy chúng mình bê cái bàn nhỏ vào góc để Bác đánh máy, đặt cái ghế bố bên cạnh để thỉnh thoảng Bác ngả lưng. Bác gầy lắm, nằm giường ván đau xương.

Bà Minh Hồ càng thêm ngỡ ngàng, tự nhủ: Vậy thì mật hiệu Mẹ về, Ông Cụ, Bác - dẫu là ba hay cả ba cũng là một người thì người đó có một cương vị tối cao rồi. Nhưng ông Nguyễn Ái Quốc, cái tên bà nghe rất quen thì là ai. Bà không thể hiểu nhưng lại rất tin ở “Mẹ về”, “Bác”, “Ông Cụ”. Bà tự tay nấu cháo, bằng những hạt gạo tám thơm mới, nước gà ninh, các gia vị có tính chữa sốt.

Sẩm tối, nồi cháo được nấu xong. Bà múc ra bát đậy vung, đặt trong chiếc khay tự bưng lên gác và gõ cửa. Đứng bên ngoài, bà nghe loáng thoáng mấy tiếng “Đoàn kết... đoàn kết tất cả”. Ông Võ Nguyên Giáp ra mở cửa, nhìn vào trong, bà thấy một cụ già, mặc quần áo nâu, mắt sáng, râu thưa, gầy và hơi xanh. Ông Giáp đỡ lấy khay cháo, bà xuống nhà, lòng bồi hồi: Cụ có đôi mắt rất sáng. Phải chăng Cụ là Nguyễn Ái Quốc thần thoại. Vậy thì mình phải hết lòng chăm sóc để Cụ có sức khỏe lo cho dân cho nước.

Cũng những ngày ấy, bác sĩ Tôn Thất Tùng ghi trong hồi ký:

19/8/1945, Cách mạng tháng Tám bùng nổ như một ngọn lửa hồng ở Hà Nội. Cùng với anh em Việt Minh, chúng tôi cướp Chính quyền của Pháp ở bệnh viện Phủ Doãn. Chỉ cần cho nổ ba phát súng là ông chánh y tế Nhật và ông phó y tế Pháp bỏ chạy, ông trước với cái gươm dài lòng thòng, và ông sau với cái cặp đầy hồ sơ!

Ngày đêm tiếng súng vẫn không ngớt ở Hà Nội, và tôi được gọi đi mổ xẻ ở Hà Đông hay đi chữa bệnh cho các đồng chí Việt Minh ở Bắc Bộ phủ, mà ta đã chiếm được. Một hôm, tôi được gọi gấp đến xem cho một lão đồng chí; bước vào phòng, tôi gặp một ông già gầy xanh, nhưng có đôi mắt rất sáng. Đó là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Và từ cuộc gặp gỡ đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng, dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ.

Tôi được nghe các bạn tôi xì xào rằng Bác Hồ là Nguyễn Ái Quốc đó. Nguyễn Ái Quốc! Cái tên mà tôi rất quen biết từ lúc học ở trường Bưởi; tôi đã nghe nói đến nhà yêu nước vĩ đại này mà tin đồn là đã chết trong một nhà lao ở Hồng Kông. Câu hỏi “Cụ có phải là Nguyễn Ái Quốc không?” luôn luôn vương vấn trong óc tôi. Nhiều lúc tôi lăm le định hỏi nhưng rồi không bao giờ tôi dám hỏi cả. Thường sau khi tiêm thuốc cho Bác, Bác hay giữ tôi lại để hỏi chuyện công việc hay gia đình. Biết tôi đã có con trai đầu lòng, Bác nói: “Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc, nên đặt cho con chú tên Bách”.

Ông viết tiếp:

“Tôi nhớ ngày gặp Bác: một cụ già ăn mặc rất giản dị, gầy gò, trán cao, hai mắt sáng và toàn thân toát ra một sự hấp dẫn lạ thường. Ngay giờ phút ấy tôi đã biết cuộc đời của tôi từ đây sẽ hoàn toàn thay đổi. Ngay giờ phút ấy, tâm hồn và trí tuệ tôi đã đi theo Bác. Tôi vui sướng lắm. Về nhà gặp mẹ tôi, tôi nói: “Mẹ ơi, nước ta nhất định độc lập rồi, vì có Cụ Hồ”. Thấy tôi vui, mẹ tôi cũng mừng lắm, mẹ tôi chạy ngay đi làm bánh nậm để mang lên Bác. Mẹ tôi trong đời chỉ làm bánh nậm cho tôi ăn, lần này làm bánh đem lên Bác, mẹ tôi cũng như tôi và chắc cũng như toàn thể dân ta, đã muốn bộc lộ lòng tôn kính Bác sôi nổi, nhiệt thành, ngay từ phút đầu tiếp xúc với Người”.

Những ngày ông Cụ ở 48 Hàng Ngang, bà Minh Hồ thấy ông Cụ thức rất khuya. Khoảng năm giờ đã nghe tiếng máy chữ gõ lách cách. Bảy giờ ông Vũ Đình Huỳnh đón ông Cụ ra làm việc ở Bắc Bộ phủ, chiều lại về 48 Hàng Ngang. Ông Cụ tiếp tục làm việc, trao đổi với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt.

Và ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, bà đã vinh hạnh được dự một cuộc mít tinh lịch sử suốt đời không thể quên được. Cả biển người đã tụ họp ở vườn hoa Ba Đình trong nắng thu rực rỡ khi có tiếng hô to: “Chào cờ”. Cả triệu người đứng im phăng phắc, trang nghiêm, đoàn quân nhạc cử quốc ca:

“Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc. Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa”.

Bất giác, nước mắt bà ứa ra, bà nhìn lên lễ đài thấy ông Cụ ở gác hai 48 Hàng Ngang lại là Chủ tịch Hồ Chí Minh đang dõng dạc đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Hàng triệu con tim hướng về Người, lắng nghe Người nói:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy...

Bà Minh Hồ cũng như triệu người đã chăm chú nghe, nghe rõ cả tiếng ông Cụ hỏi:

“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”

Ôi thân thương quá, gần gụi quá. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người rất gần dân và Người lại dõng dạc đọc tiếp:

“Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập.

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập mà sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Cả biển người vỡ òa trong tiếng vỗ tay, tiếng vang lên: Xin thề. Xin thề.

*

Nhà văn Sơn Tùng kể:

Cũng vào ngày ấy, O [1] Nguyễn Thị Thanh chị ruột Cụ Hồ ở làng Sen đang xem mạch cho một người em họ của mẹ O - bà Hoàng Thị Loan - ở làng Chùa bị bệnh thương hàn nhập lý, thì ông Vương Thúc Oánh con cụ cử nhân Vương Thúc Quý, con rể cụ Phan Bội Châu, (Cụ Vương Thúc Quý là thầy dạy chữ nho của Cụ Hồ), cầm tờ báo chạy tới bên O, vừa nói vừa thở:

- Ảnh cậu Thành... cậu Thành của chúng ta là Cụ Hồ chị ơi! Ảnh in trên báo đấy.

O cầm tờ báo, tay run run, nhìn vào tấm ảnh in khá rõ. O buột miệng: “Cụ Hồ. Ồ cậu Thành! Tất Thành”. Nước mắt O dào ra, ngắm đi ngắm lại em trai mình ở hai con mắt sáng và hai cái tai không thể lẫn với ai khác. Nhưng khuôn mặt gầy và bộ râu thưa khiến O ngờ ngợ.

Ông Vương Thúc Oánh quả quyết:

- Chị biết đấy, năm 1927 tôi được cụ Đinh Chương Dương đưa sang Quảng Châu Trung Quốc dự lớp huấn luyện do ông Nguyễn Ái Quốc phụ trách. Hồi đó, tôi nhận ngay ra cậu Nguyễn Tất Thành, tên gọi lúc đó là đồng chí Lý Thụy. Đến nay đã mười tám năm, tôi vẫn nhớ như in diện mạo ông Nguyễn Ái Quốc, chắc chắn Cụ Hồ là Nguyễn Ái Quốc, là Nguyễn Tất Thành của chúng ta.

O Thanh ngây người ra. O bồi hồi nhớ lại ngày cha O, cụ Nguyễn Sinh Sắc vô kinh đã nhận chức Thừa biên bộ Lễ, cậu Thành cùng cậu Cả Khiêm theo cha vào Huế tiếp tục học chữ mới (chữ Tây). Năm đó cậu Thành 15, chốc đấy đã bốn mươi năm rồi.

Bốn mươi năm, bao nhiêu thăng trầm, nhà O cũng phải chịu cảnh nước mất nhà tan. O đã tham gia Việt Nam quang phục hội của cụ Phan Bội Châu hoạt động lật đổ Nhà nước Pháp bảo hộ và Nam triều, O bị bắt, bị kết án 9 năm khổ sai, ông Cả Khiêm cũng phải đi đày 8 năm. Hết hạn tù khổ sai, nào O có được tha bổng, vẫn phải tiếp tục chịu án quản thúc suốt đời, O ở Huế hay muốn xin về Nghệ An đều phải trình diện quan sở tại. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám, O còn đang bị quản thúc tại huyện lị Nam Đàn. Hôm dân chúng nổi dậy cướp chính quyền ở Vinh, O vui quá là vui, được tin dân ta đã lật đổ chính quyền thực dân phong kiến khắp mọi nơi trong cả nước rồi. O ra Vinh, đến các gia đình đã hoạt động thời Duy Tân với O, ai nấy cũng đều vui, mở tiệc ăn mừng nước mình đã độc lập. Ai cũng nói: “Đó là nhờ Cụ Hồ, vị cứu tinh dân tộc”.

Và O muốn được ra Hà Nội thăm em của O, cậu Nguyễn Tất Thành. O xuống chợ mua hai con vịt bầu bỏ vào cái lồng mới xách vào ga Vinh. Vì cái lồng vịt đó, O đã bị nhân viên ga làm khó dễ nhưng O vẫn được ra đến Hà Nội với cái lồng vịt ấy.

Trên đoạn đường từ ga Hàng Cỏ đến nơi “cậu Thành” làm việc, O choáng ngợp trong biển người và sóng cờ đỏ sao vàng. Tiếng hát, tiếng đàn, tiếng hô khẩu hiệu, tiếng hò reo dậy đất. Lòng khát vọng độc lập tự do của dân mình như trời như biển. Và đột nhiên O mỉm cười tự nhận ra ý nghĩa thâm thúy của việc đổi họ, thay tên của em trai mình khi sự nghiệp đã thành danh.

Với lồng vịt xách tay, O Thanh đến Bắc Bộ phủ. O nói với chú lính cho O vào gặp Cụ Hồ. Chú lính nhìn O từ đầu đến chân rồi nhìn cái lồng vịt, hỏi O:

- Cụ là ai mà dám đến đây xin gặp Cụ Hồ.

O đáp thản nhiên:

- Chú cứ vào thưa với Cụ Hồ là có người ở trong Nghệ An ra thăm.

O nghe mấy chú lính nói nhỏ với nhau: “Bà này hao hao giống Bác Hồ”. Đoạn một chú lính nói với O giọng nhẹ nhàng:

- Cụ hãy tạm đứng sang bên này đợi, sẽ có người ra gặp.

O cảm thấy phiền hà khó chịu, muốn quay về nhưng lòng mong mỏi được gặp em khiến O ráng đợi. Một lúc sau, lúc O đã nhai giập miếng trầu mang theo thì có một người cỡ bốn mươi tuổi ra gặp O, và hỏi ân cần:

- Thưa Cụ, có phải Cụ là Nguyễn Thị Thanh?

O hơi ngạc nhiên hỏi lại:

- Sao ông biết tên tôi?

Ông đó đáp:

- Dạ, cháu được nghe Bác Hồ nhắc đến Cụ và Cụ Cả Khiêm ạ.

O mừng thầm:

- Cụ Hồ đúng là cậu Thành rồi.

Ông lễ phép mời O vào phòng khách, rót nước mời O và tự giới thiệu:

- Thưa Cụ, cháu là bí thư, là người giúp việc của Bác Hồ. Tên cháu là Huỳnh, Vũ Đình Huỳnh ạ. Xin Cụ đợi cháu một lát ạ.

Sau đó, ông Vũ Đình Huỳnh lên tầng hai. Bác đang làm việc với các anh Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Hoàng Minh Giám về việc bọn Lư Hán, Tiêu Văn đòi được gặp Hồ Chủ Tịch.

Ông thưa với Bác: “Cô Thanh ở Nghệ An ra thăm Bác”. Ông thấy Bác đặt cây bút chì đỏ xuống bàn, hai tay Người níu chặt lấy bàn, nhìn ông. Và ông thấy đôi mắt Bác rưng rưng ngấn lệ. Cả các anh Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Hoàng Minh Giám dường như hòa chung vào niềm xúc động bất ngờ của Bác. Trong giây lát, Bác đã bình tĩnh:

- Bốn chục năm! Bây giờ chị em mới có điều kiện gặp lại, tôi nhớ chị tôi, nhưng phải nén chịu. Tôi gặp chị tôi ngay tại đây e không tiện, chú Huỳnh xuống gặp chị tôi, chú nói cách nào đó để chị tôi thông cảm. Nhờ chú đưa chị tôi về ở nhà chú Đặng. Tôi sẽ về đó, chị em gặp nhau hàn huyên được nhiều.

Ông Huỳnh trở lại phòng khách một mình. O Thanh hỏi ngay:

- Ông Hồ đi vắng à?

Ông Huỳnh lúng túng:

- Dạ, thưa Cụ... Bác còn dở dang một công việc hệ trọng. Bác giao cho cháu đưa cụ về nghỉ tại nhà giáo sư Đặng. Bác sẽ về gặp Cụ tại đó.

Trời, nghe tới đó, O Thanh đứng phắt dậy, sải bước đến góc phòng, xách lồng vịt lên, xẵng giọng:

- Tôi trở về Nghệ An đây. Tôi không ngờ, em tôi bây giờ là Chủ tịch nước, Chủ tịch nước là vua chứ gì. Vậy là, em tôi đã thay đổi, đã “quan dân lễ cách”. Sợ gặp chị rách rưới ở nơi quyền cao chức trọng này xấu hổ cho em chăng.

Ông Huỳnh chờ cho Cụ nguôi giận mới thưa với Cụ lễ độ mà thân tình:

- Thưa cụ, được tin Cụ ra thăm, Bác mừng nước mắt nhòe cặp kính lão. Bác muốn chạy ngay xuống đây với Cụ. Nhưng Bác đã phải níu chặt tay vào bàn để nén chịu nỗi nhớ nhung. Vì hiện giờ, chính quyền cách mạng còn trứng nước mà thù trong giặc ngoài như kiến cỏ, chúng đang tìm cho ra tung tích Hồ Chí Minh có đúng là Nguyễn Ái Quốc không?

Ông Huỳnh chưa nói hết, O Thanh đã để lồng vịt xuống, đặt bàn tay vào cánh tay ông Huỳnh, mắt O cũng rưng rưng lệ:

- Tôi hiểu ra rồi. Vì nghĩa lớn, đã vì nghĩa lớn mà bấy lâu xa cách, gác lại tình riêng. Chị em tôi, thôi được, ông đưa tôi về nhà ông Đặng. Thân sinh ông Đặng và thân sinh của tôi vẫn là bạn đèn sách cùng hàng phó bảng triều Thành Thái mà.

O Thanh về đến nhà giáo sư Đặng nhưng lòng vẫn không yên dù cả nhà mừng ra đón O như đón người thân lâu ngày mới gặp. Bà giáo Đặng nói với O:

- Người Bắc có tục lệ kiêng ăn vịt đầu tháng, sợ xúi quẩy. Cho nên không ai đem vịt đi biếu lễ tết. Giá chị đem một đôi gà làm quà biếu Bác Hồ hợp với phong tục ngoài Bắc chị ạ.

O không nỡ giận mợ giáo Đặng vì mợ ấy cũng là con nhà có tiếng gia phong. Nhưng O nói: “Mợ nói vậy là trái đạo nhà ta rồi đó. Tôi đi thăm em trai đã lâu ngày chưa gặp lại, tôi có thứ gì thì đem phần cho em thứ đó. Tôi đâu có biện lễ tết người thượng cấp?”. Mợ giáo Đặng biết đã lỡ lời, nói với O:

- Em trót buột miệng nói điều không phải, chị thứ lỗi cho em.

Nhân thể, mợ giáo Đặng hỏi O làm những món gì để đãi cơm cậu Thành. O nhờ mợ ấy làm theo chủ định của mình:

- Tôi đem hai con vịt từ quê nhà ra đây là có tích của nó. Nhờ mợ làm cho chị món vịt luộc, chấm muối gừng, vì cậu Thành sợ mùi tỏi sống. Còn nước luộc mợ cho gia vị làm nước dùng. Chỉ từng ấy, đừng làm thêm món gì nữa.

- Hai con vịt bầu tới ba cân có thể chế biến nhiều món ăn vừa ngon vừa sang. Chỉ một món luộc phí quá chị ạ.

- Những bữa khác mợ tha hồ trổ tài nấu nướng đãi khách. Còn bữa này mợ làm theo ý tôi đã.

Vào buổi non trưa có tiếng xe hơi ngoài cửa. Cậu giáo Đặng vẻ mừng rỡ đi nhanh từ phòng ngoài vào trong nói với O:

- Chị ơi... Bác về... Bác về rồi!

O vui đến nghẹn thở, nhưng cái giận dỗi ở đâu tận trong bụng trào lên. O gắt với cậu giáo Đặng:

- Cậu đang nói với ai vậy? Tôi là chị cậu Thành kia mà. Cậu Thành đi làm cánh mạng giúp dân cứu nước chứ đâu phải làm cố đạo để bố mẹ, ông bà cũng phải gọi bằng “cha”, xưng “con”. Bác Hồ là Bác với thanh niên, nhi đồng...

Cậu giáo Đặng im lặng đi ra, O nghe tiếng cậu giáo Đặng nói vẻ hồi hộp từ phía ngoài. Tiếng chân đang đi gần vào nơi O ngồi. Tự nhiên như có ai xoay người O ngoảnh mặt vào tường. O lắng rõ tiếng chân của cậu Thành đang bước, nhưng cái dỗi kéo O không quay ra với em mà ngoảnh mặt vào tường. Cậu Thành ngồi khẽ khàng xuống mép giường, sát người O, giọng nói vẫn trong, vẫn còn hơi hướng giọng Nghệ Tĩnh. Hai bàn tay cậu Thành ấp lên vai O: “Chị ơi! Chị nỡ nào dỗi với em!”. O khóc òa lên! O quay ra ôm lấy em. Nhìn em Thành đã hóa một ông cụ tóc muối tiêu râu thưa dài lòa xòa! O xót xa vô cùng. Cậu Thành cũng khóc, nói những gì O không nghe rõ.

Bao điều dự định để than thở với em bỗng bay biến mất, chỉ hiện ra cái hình ảnh trên sân nhà bà ngoại ở làng Chùa, năm Tân Sửu (1901). O ngồi thái rau lợn, nhìn ra ngõ thấy em Thành còn gọi là bé Côn theo cha mẹ vô Huế từ năm năm trước nay trở về, O mừng reo lên: “Mẹ về... Mẹ về... Bà ơi... Cha mẹ cháu đã về”. Nhưng em Thành chạy sà vào lòng O khóc to: “Chị ơi, mẹ đã chết trong Huế... Cha đang đi về kia...”.

Cái hình ảnh ấy bám riết lấy O mãi tới lúc cậu Thành đứng lên dìu tay O ra khỏi phòng khách. Hai chị em xa nhau đã hàng vạn ngày mà gặp nhau hàn huyên không được một giờ. Bởi cậu Thành đâu có nhiều thì giờ.

Mợ giáo Đặng đã làm xong cơm. Hai chị em O, hai vợ chồng cậu giáo Đặng ngồi vừa một mâm. Nhìn vào mâm thấy đầy thịt vịt luộc, cậu Thành đùa vui:

- Chà! Vợ chồng chú Đặng đãi chị em tôi món thịt vịt đầy thế này rồi tha hồ được nghe “tin vịt”.

Cậu giáo Đặng cười không nói gì. Mợ giáo hồ hởi nói:

- Thưa Bác.

Cậu Thành đỡ lời ngay:

- Gọi tôi là anh thôi. Người nhà với nhau mà gọi tôi bằng bác. Gọi O Thanh của chúng ta bằng chị khác nào cầm đũa lệch gắp cơm.

Cậu Thành nói vậy rồi, mợ giáo Đặng vẫn gọi Bác. Mợ ấy nói luôn món thịt vịt là của O mang từ làng Sen ra. “Cậu Thành” đặt đôi đũa xuống mâm đứng dậy, hai cánh tay khép vào phía trước, nói với O:

- Hồi còn bé em thích món thịt vịt luộc hơn các thức ăn khác. Em cũng hay vòi vĩnh bà ngoại, vòi vĩnh mẹ món thịt vịt mỗi khi nhà có cỗ bàn. Em xa quê từ ngày tóc còn để chỏm, nay hai chị em tóc bạc mới được gặp lại. Chị vẫn còn nhớ sở thích khi còn trẻ nít của em, chẳng quản tuổi già sức yếu đem vịt từ quê nhà ra đây vì em.

O Thanh mừng thỏa dạ như lúc khát được uống nước giếng thơi vậy. O nói ra điều canh cánh bên lòng với “Cậu Thành”:

- Chị cứ lo ngay ngáy về nỗi cậu đi khắp hoàn cầu sẽ quên mất những thứ quê vị quán nơi mình cắt rốn chôn nhau. Giờ gặp cậu chị yên lòng lắm.

Chị em sau 40 năm xa cách, Bác Hồ cũng chỉ được gặp chị có một lần ngắn ngủi và duy nhất đó.

*

Đang khi bề bộn hàng trăm thứ việc lại xảy ra vụ bọn phá hoại ám sát Arnoux, một Pháp kiều, nguyên là giáo viên trường Kỹ nghệ Đông Dương. Bọn Lư Hán lợi dụng vụ này gây rắc rối với ta.

Mới đầu giờ làm việc, từ Tổng hành dinh, Lư Hán đưa tới văn phòng Phủ Chủ tịch một phong thư, đề: “Kính gửi đồng chí Hồ Chí Minh”. Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Hoàng Hữu Nam mở phong bì thư. “Kính mời Hồ Chí Minh tiên sinh quá bộ tới Tổng hành dinh của tôi để giải quyết vụ nhân viên công an Việt Nam bắn chết một Pháp kiều”.

Ông Hoàng Hữu Nam báo cáo ngay với ông Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp suy nghĩ. Ông chau mày:

- Bọn này vừa xảo quyệt vừa hèn mạt. Chúng dám giở cái trò lục lâm với chúng ta ngay lúc này lắm? Trên phong bì chúng viết là “đồng chí Hồ Chí Minh”. Tránh gọi chức danh “Chủ tịch nước” của Bác. Nếu gọi như vậy là vô hình chung chúng đã thừa nhận Chính phủ của ta. Trong công văn chúng lại ghi “Hồ Chí Minh tiên sinh”. Giọng điệu đểu cáng này, chúng dám làm cái điều hèn mạt.

Ông Võ Nguyên Giáp cho mời ông Lê Giản, ông Vũ Đình Huỳnh đến trù liệu công việc, trước lúc báo cáo với Bác. Các ông đều thống nhất khuyên Bác không đến gặp Lưu Hán tại nơi hắn ở.

Ông Võ Nguyên Giáp và ông Vũ Đình Huỳnh gặp Bác, đọc xong thư Thượng khẩn của Lư Hán, Bác hỏi:

- Ý kiến các đồng chí thế nào?

- Thưa Bác, ông Giáp nói, anh em chúng tôi thống nhất với nhau là Bác cử đặc phái viên của Chủ tịch nước Việt Nam đến gặp hắn ta.

Bác mở nắp bao thuốc. Chẳng còn điếu nào. Ông Vũ Đình Huỳnh lấy bao thuốc ở trong cặp ra mời Bác. Bác hút luôn mấy hơi liền. Giọng Bác sáng lên:

- Lư Hán lúc này không phải chỉ là tướng của quân đội Tưởng Giới Thạch mà nhân danh Đồng minh đến đất nước mình giải giáp quân đội phát xít Nhật. Ngoài phong bì nó gọi tôi là đồng chí, nhưng giấy tờ bên trong lại là “một chỉ lệnh” của Đồng minh và cái giọng rất “Thiên triều” đối với các chư hầu. Nếu tôi không đến gặp nó, nó sẽ cho là chúng ta đã sợ nó. Nó sẽ được nước, làm điều càn bậy hơn.

Ông Giáp lo lắng:

- Nhưng... Bác đến đó nguy hiểm vô cùng.

- Đúng. Nhưng có miếng võ hiểm thì cũng có miếng văn phá hiểm chứ.

Ông Vũ Đình Huỳnh hỏi:

- Phải có ai đi cùng với Bác chứ?

- Không cần. Mình vừa là Chủ tịch vừa là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Trường hợp này nhiều người lại sinh vướng chân nhau, thì khó xoay trở. Chỉ cần chú lái xe và một chú cận vệ đi với tôi.

Anh Hảo đưa xe đến trước bậc thềm. Đồng chí Định, đồng chí Lý và Chuẩn đã sẵn sàng đợi Bác trước cửa ra vào.

Bác dặn ông Vũ Đình Huỳnh:

- Cả ngày hôm nay, chú không rời khỏi phòng này một lúc nào cả.

Ông Võ Nguyên Giáp, ông Hoàng Hữu Nam, ông Lê Giản đưa chân Bác ra sân Bắc Bộ phủ, hầu như ba ông đều có một lo lắng: “Hoa quân nhập Việt, diệt Cộng, cầm Hồ”. Cánh cửa xe mở, Bác lại quay vào phòng, Bác gọi điên thoại sang văn phòng ông Patti. Mọi người vẫn đợi Bác ngoài sân. Lúc trở lại, nét mặt Bác đầy tự tin và thanh thản.

Xe Bác ra khỏi Bắc Bộ phủ đi thẳng lên phía quảng trường Ba Đình, vào thẳng dinh toàn quyền cũ. Bác vừa ra khỏi xe, một tên sĩ quan liên lạc của Lư Hán tiếp Bác ngay ở bậc thềm tòa lâu đài, hắn nói tiếng Vân Nam:

- Thưa Hồ Chí Minh tiên sinh. Tướng quân Lư Hán của chúng tôi bận việc. Mời tiên sinh gặp tướng quân Tiêu Văn.

Một sự xúc phạm. Nhưng Bác thoát mình khỏi sự tiểu khí của bọn giặc cỏ này.

Bác nói với anh Hảo:

- Chú đưa Bác đến nhà số 64 phố Nguyễn Du.

Đồng chí Chuẩn vẻ tức giận:

- Chúng nó bắt nạt, quá lắm Bác ơi!

Bác cười:

- Chúng ta đang bí nên chúng bắt bí, chứ chúng nạt thế nào được chúng ta.

Anh Hảo dừng xe sát mép đường, trước ngôi biệt thự số 64 Nguyễn Du. Hai tên lính gác đứng nghiêm túc. Hồ Chủ tịch bước đến cửa. Bác nhận ngay ra Thiệu Bách Xương, đặc phái viên Bộ quân chính Quốc Đan đang đợi sẵn ở đây. Bác còn nhớ như in lần đầu tiên gặp y trong một bữa tiệc của các tướng lĩnh Bộ Tư lệnh phương diện quân thứ nhất chiêu đãi các đảng ở Việt Nam tại khách sạn Tân Á. Ngoài Lư Hán, Tiêu Văn, Chu Phúc Hành, còn có Chu Kiệt, Lăng Kỳ Hàn, Trần Tư Hòa, Hoàng Cường v.v...

Thiệu Bách Xương thái độ lễ phép:

- Thưa Đại nhân, Chu quân trưởng (Chu Phúc Thành) hiện đang chờ đại nhân tại Bộ tư lệnh quân đoàn 63.

Bác đã nhận ra sự nguy hiểm nhưng Bác rất điềm tĩnh:

- Các ông đã có thịnh tình mời tôi mà địa điểm đón tiếp tôi lại không thống nhất được với nhau thật đáng tiếc.

- Xin đại nhân miễn thứ cho sự sơ xuất này của chúng tôi. Tôi xin tháp tùng đại nhân đến tận bản doanh của Chu quân trưởng ạ.

Thấy Bác đi trở ra với một viên tướng Tàu, anh em cận vệ lo lắng. Bác đưa mắt nhìn anh em: “Bình tĩnh”.

Anh Hảo giữ tay lái đưa chiếc xe chở Bác bám sát chiếc xe của viên tướng Tàu. Phút chốc xe Bác đã đến khu Đồn Thủy (bây giờ là Viện 108). Đám lính gác Bộ Tư lệnh quân đoàn 63 trong tư thế thiết quân lệnh, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí, súng tuốt lê trần sắc lạnh.

Bác sóng bước với Thiệu Bách Xương đi vào tòa tiền sảnh. Viên sĩ quan liên lạc trực sẵn, đón Bác và Thiệu Bách Xương vào phòng, song ba cận vệ của Bác bị lính Bộ tư lệnh quân đoàn giữ lại. Ba anh với tư thế đàng hoàng mắt nhìn bọn lính Tưởng. Bác nhìn về phía ba vệ sĩ của Người “Bình tĩnh”. Bác đi ung dung lên gác hai...

Ông Võ Nguyên Giáp, ông Lê Giản, ông Hoàng Hữu Nam, ông Vũ Đình Huỳnh lo lắng... thấp thỏm... phán đoán... không rõ là chúng giữ Bác ở chỗ nào. Ông Lê Giản Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam đã tung lực lượng trinh sát đi mà chưa có một manh mối nào, ba đồng chí bảo vệ và lái xe cho Bác cũng chẳng có người nào trở về.

Anh Định, cận vệ, trở về một mình! Mọi người đầy hồi hộp. Anh Định trao cho ông Võ Nguyên Giáp thư bỏ ngỏ của Bác bằng chữ Nho: “Tôi đang bận một chút. Anh em ở nhà cứ làm việc bình thường”. Anh Định thuật lại toàn bộdiễn biến. Bác vẫn còn bị chúng giữ trong Tổng hành dinh quân đoàn 63 của tướng Chu Phúc Thành!

Một mình Bác giữa bầy sói? Phải... làm cách nào để giải vây cho Bác?

Đang lúc trù liệu rất căng thẳng thì ông Patti và tướng Ghêlêgơ đến Bắc Bộ phủ. Ông Hoàng Hữu Nam và ông Vũ Đình Huỳnh tiếp họ.

Ông Patti là một vị khách nước ngoài quen biết Bác Hồ từ bên Vân Nam. Từ ngày về Hà Nội, Hồ Chủ tịch đối với ông như một tình bạn, tiếp xúc với nhau nhiều lần. Bác từ Tân Trào về 48 Hàng Ngang, Hà Nội, đang chân ướt chân ráo, Người đã mời cơm thân mật Patti. Người còn tiếp ông mấy lần tại nhà số 8 đường Vua Lê và nhờ ông chuyển thư của Người tới Tổng thống Mỹ thời bấy giờ là Tơruman. Ông cho biết Hồ Chủ tịch đã gọi điện thoại mời ông và tướng Ghêlêgơ chiều nay gặp gỡ nhau ở Bắc Bộ phủ.

Ông Huỳnh báo cho hai ông biết là Hồ Chủ tịch đến hành dinh của quân đoàn 63 theo lời mời của tướng Lư Hán. Nhưng chẳng rõ lý do gì mà họ giữ Hồ Chủ tịch tại đó đến lúc này vẫn chưa về được.

Sự bất bình về hành động của bọn Lư Hán hiện rõ trên cử chỉ ông Patti và tướng Ghêlêgơ. Ông Patti đi ra xe, nói với ông Vũ Đình Huỳnh:

- Chúng tôi can thiệp ngay việc này...

Bấy giờ ông Huỳnh mới rõ lý do Bác dặn ông lúc ra đi: “Cả ngày hôm nay chú không được rời khỏi phòng này một lúc nào cả”.

Ông Võ Nguyên Giáp mỉm cười:

- Bây giờ mình mới hiểu điều Bác nói lúc Người quyết định xáp mặt với bọn chúng: “Có miếng võ hiểm thì cũng có miếng văn phá hiểm”...

Chiều se se lạnh. Ông Vũ Đình Huỳnh đưa xe đến đón Bác và anh em cận vệ. Lúc về bên hồ Hoàn Kiếm, anh Hảo, người lái xe của Bác bị chúng tước đoạt chiếc xe, hỏi Bác:

- Sao chúng nó lại không trả cho ta cái xe, hả Bác.

- Chúng nó đã không giữ nổi cả tấm chài thì giữ lấy một miếng chì cho đỡ bẽ mặt.

Anh Định tự trách:

- Chúng cháu đi bảo vệ Bác mà chẳng làm nên trò trống gì.

- Các chú đã bình tĩnh, giữ vững kỷ luật. Như thế là góp phần thắng lợi.

Ông Vũ Đình Huỳnh giọng vui vui:

- Trong vòng vây lang sói, Bác đã tự cứu Bác.

Bác cười:

- Cuộc chiến đấu của chúng ta không đơn độc.

Ông Vũ Đình Huỳnh mở cặp lấy bức điện cụ Huỳnh Thúc Kháng trao vào tay Bác. “Thưa Hồ Chủ tịch, tôi vừa nhận được điện thứ hai của Chủ tịch và điện của ông Võ Nguyên Giáp. Tôi chuẩn bị trời tối sẽ lên đường”.

Bác nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm lung linh ánh gươm thiêng!...

Bích Thuận

___________________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Bản án chế độ thực dân Pháp.

- Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.

- Nhật ký trong tù (Cernet de Prison).


[1] O: ở Nghệ An những người phụ nữ độc thân đến khi cao tuổi vẫn được gọi là O.


Nguồn: Tạp chí Nhà văn.

Ý kiến bạn đọc (0)


Ẩn/hiện ý kiến

Thu nhỏ của sổ | Phóng to cửa sổ
security image
Nhập mã bảo vệ vào ô dưới đây:

busy
 
Tác giả bài viết này : Bích Thuận

Các bài khác cùng tác giả:

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Sách hay

 

Sách đã xuất bản: If you're here (Nếu em ở đây)

TVVHĐ - "Nếu em ở đây (if you are here) là tác phẩm gần đây nhất của Hồng Sakura, nội dung kể về câu chuyện của những người bạn sống cùng một khu trọ với những mục tiêu và tính cách rất khác nhau....

 

Tập sách: "Cõi nhân dị biệt" của tác giả Nguyễn Trần Bé

Giới thiệu tác giả: Nguyễn Trần Bé - Sinh năm 1960 tại Ninh Nhất, Hoa Lư, Ninh Bình - Lớn lên ở thôn Khánh An, xã Thái Hoà, Hàm Yên, Tuyên Quang...

 

Truyện dài: "Giọt nước giữa biển khơi" (Việt Tú Kỳ Phong)

"Cuốn truyện này kể lại cuộc đời của một người, ông Phạm Văn Tuyển, một con người bình thường như bao con người khác. Nhưng ông đã làm nên những kỳ tích....

 

Sách mới: Thiền và Không gian minh triết

GSTS Phạm Đức Dương, Chủ tịch Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á - Việt Nam đã phải thốt lên: "Nếu như Thiền Minh Triết được chia sẻ trong mọi gia đình, mọi cộng đồng, nhất là trong tầng lớp thanh niên (khi họ bước vào đời với ...

 

Giới thiệu thơ: Mắt lặng của nhà thơ Bàng Ái Thơ

Tôi đi tìm cõi vô thường Ngẩn ngơ tìm chốn nỗi buồn ngụ cư...
Bảng quảng cáo

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay273
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTất cả216407

20 92
,
Hôm nay:22 - 5 - 2012
Hiện có 71 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: