Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Ngàn dặm xa >>> Nhịp cầu văn hoá >>> Đôi điều suy nghĩ sau đám tang một người thân

Đôi điều suy nghĩ sau đám tang một người thân

In

 

Căn nhà tôi đang cư ngụ ở trong một khu mobile home của người già nằm trên đường Beach. Băng qua bên kia đường về phía trái một khoảng cách ngắn không đầy vài trăm thước, là hai khu nghĩa trang dính liền nhau: Peak Family và Westminster Memorial Park. Các bạn tôi hay đùa, thường nói: Ông cư ngụ ở khu người già, lại gần ngay nghĩa trang để khi “đi” cho nó gần phải không? Từ khi dọn nhà về đây đã nhiều lần tôi choàng vào người bộ complet mầu xậm, lội bộ băng qua bên kia đường, đưa tiễn những người thân và những người quen về bên kia thế giới. Mới ba tuần lễ trước đây, tôi đã đưa tiễn ông Đỗ Ngọc Yến tới nơi an nghỉ cuối cùng tại Peak Family. Rải rác trong hai nghĩa trang này, còn có những ngôi mộ của các bạn tôi từ thời thơ ấu, các bạn trong quân ngũ và tất nhiên các bạn làm văn nghệ. Mỗi lần tiễn đưa như thế trở về, buổi tối tôi thường ngồi nơi cái ghế xích đu trước hiên nhà, nhìn lên bầu trời đầy trăng sao nghĩ về người đã khuất, nghĩ về bản thân mình và hiểu rằng con đường thật sự của tôi đến nghĩa trang, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đã rất gần.

Nếu chúng ta tạm đồng ý với các bảng thống kê về nhân số, thì tuổi thọ trung bình của một người cư ngụ ở Mỹ là 72 tuổi (bất kể mầu da của người đó trắng, vàng, đen, đỏ), là một tuổi thọ tương đối cao, vì đời sống ở nước Mỹ có những điều kiện cao hơn nhiều quốc gia khác. Cho dù có thọ thêm hơn chăng nữa, thì những thời gian cuối của một đời người chẳng qua chỉ là những chuỗi ngày bận bịu với thuốc men cùng bệnh tật. Sinh năm 1943, tuổi hưu trí của tôi được nhà nước ấn định là 66 tuổi, thế có nghĩa là tôi còn nặng nợ với áo cơm thêm ba năm nữa, và như vậy trong 9, 10 năm còn lại mà sức khỏe chưa đến nỗi tồi tệ, trí óc còn đủ minh mẫn để có thể làm một cái gì đó cho bản thân mình, và cho cuộc đời chỉ thực sự còn được có năm, sáu năm hoàn toàn không phải bận tâm vì sinh kế. Bình thường mỗi người khi quyết định về hưu là hoàn toàn phủi tay, nếu giầu có thì đi du lịch đó đây, nếu nghèo khó thì phải bận tâm xoay trở làm sao để có thể sống được tạm đủ với tiền già.

Là một nhà văn, cho dù có được về hưu và tạm ổn định với số lương hưu trí sau ba chục năm đi cầy, đóng thuế cho nhà nước, tôi hiểu được một điều tôi sẽ không bao giờ về hưu thực sự. Bởi vì với một nhà văn, thì bên cạnh một đời thường như tất cả mọi người, một nhà văn thật sự lúc nào cũng có một điều gì đó thúc đẩy từ trong nội tâm, đọc một cuốn sách, viết một bài báo, làm một bài thơ, xem một phòng tranh… và nếu đủ hùng tâm để viết một cuốn sách khác. Với quỹ thời gian còn lại không nhiều, tôi sẽ phải tính toán làm sao để sử dụng cái vốn liếng cuối cùng này.

Tôi chưa thể viết một cuốn sách khác, khi tôi còn nợ những người đọc một tác phẩm chưa hoàn tất, đó là bộ trường thiên tiểu thuyết Người Trăm Năm Cũ. Trong lời tựa của bộ sách này, tôi đã phân chia bộ truyện gồm ba phần, phần đầu gồm hai cuốn được tôi đặt cho một cái tên riêng là “Trên Núi Đồi Yên Thế” mà ở đó tôi viết về những người chống Pháp cuối cùng chịu ảnh hưởng Hán Học, mà chung cuộc là những cái chết của những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế như Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Tuyển. Phần hai của bộ truyện này cũng gồm hai cuốn được tôi đặt cho một cái tên riêng là “Từ Thái Nguyên đến Điện Biên Phủ”, viết về những người chống Pháp đầu tiên chịu ảnh hưởng Tây Học, mà khởi đầu là cánh ông Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn nổi dậy ở Thái Nguyên vào năm 1917, để rồi kết thúc sau trận Điện Biên Phủ vào năm 1954, với quốc gia bị chia làm hai miền thù hận. Phần ba là hồi đại kết cuộc gồm hai cuốn viết về cuộc nội chiến giữa hai miền Nam Bắc, để chấm dứt mấy thế kỷ chiến tranh của Việt Nam vào năm 1975. Trong trận chiến này tôi là một người lính của miền Nam, để rồi sau khi chiến tranh tàn, phải sống một cuộc đời tị nạn. Phần ba cũng gồm hai cuốn và nếu còn đủ hùng tâm cũng như sự minh mẫn, tôi sẽ viết thêm một cuốn phụ lục dưới dạng hồi ký về hai xã hội Việt Nam, ở trong và ngoài nước từ năm 1975 đổ về sau cho tới năm 1993, khi tôi bắt đầu ngồi xuống gõ những chữ đầu tiên trên bàn phím.

Nói tóm lại bộ truyện của tôi gồm có ít nhất sáu quyển, dự trù ba ngàn trang, được khởi viết vào năm 1993, đúng một trăm năm sau khi ông Hoàng Hoa Thám gây được một vùng đất tự trị trong vùng Yên Thế của tỉnh Bắc Giang. Trước đó với hòa ước Giáp Tuất 1874, và hòa ước Giáp Thân 1884 mà sử Việt thường hay gọi là hòa ước Patenôtre, thì nước Việt đã hoàn toàn nằm dưới sự đô hộ của người Pháp. Triều đình Huế chỉ còn là hư vị mà thôi. Việc chống trả với ngoại xâm giờ đây không còn nằm trong tay của các võ quan trong triều, mà thậm chí vua quan của nhà Nguyễn còn bị áp lực của người Pháp, để trấn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của những kẻ sĩ dân giã.

Để viết về Yên Thế, mười năm trước đây tôi về Việt Nam lần đầu vào năm 1995, để nhìn thấy Yên Thế là một quận lỵ hoang vu, và thời gian hầu như đã đứng yên hàng nửa thế kỷ. Ở Yên Thế không có một quán trọ cho khách du lịch, tôi đành phải thuê một phòng ngủ ở đầu tỉnh Bắc Giang, bên bờ con sông Thương cách Yên Thế một khoảng đường chừng hai chục cây số. Đúng một thế kỷ trước, khi Hoàng Hoa Thám vẫy vùng ở đây thì toàn bộ vùng đất này có tên là Phủ Lạng Thương. Tôi trọ ở phòng ngủ này hai đêm, để có hai ngày thuê một chiếc xe “ô tô con” Tiệp Khắc, đưa tôi đi Nhã Nam,  Phồn Xương, Hữu Nhuế… là những căn cứ của nghĩa quân Yên Thế. Tôi cũng đến viếng các cảnh chùa, các ngôi đền để biết được tại sao người dân địa phương gọi một ngôi đền ở đây là “Đền Thề”.

Năm ngoái tôi về Thái Nguyên, chỉ tiếc là tôi không có thời giờ nghỉ lại đây một đôi ngày, để đi thăm viếng những nơi chốn liên quan tới các trận đánh trong cuộc khởi nghĩa của ông Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn. Tuy nhiên những gì đập vào mắt tôi trong hai chuyến viếng thăm cách nhau khoảng 10 năm là khi tôi về Yên Thế thì hầu như cảnh vật còn sót lại vài nét hoang vu của một trăm năm cũ. Tất nhiên con người ta thường lại không thọ quá trăm năm, cho nên người của thời Đề Thám chắc chắn không còn một ai. Thế nhưng mười năm sau trở lại Thái Nguyên vào năm 2005, nền kinh tế thị trường thâm nhập vô quá mạnh đã phá hỏng hầu như toàn bộ cảnh trí của thời ông Lương Ngọc Quyến. Trước đó trong chiến tranh Nam Bắc, phong cảnh của tỉnh Thái Nguyên đã một lần bị xáo trộn mạnh, do Trung Cộng viện trợ cho Bắc Việt một nhà máy thép thật lớn, đã ảnh hưởng tới đời sống của người dân trong thị xã này. Tuy nhiên tôi tin là người của thời ông Lương Ngọc Quyến vẫn còn sót lại, bởi vì cuộc khởi nghĩa của ông Lương Ngọc Quyến diễn ra vào năm 1917, thế nào ở Thái Nguyên cũng còn sót lại vài cụ già bằng tuổi cha tôi, sinh vào những năm đầu của thế kỷ 20. Để có thể viết về Thái Nguyên cho sống động, và cho sát với thực tế ở ngoài đời, tôi tự nhủ sẽ phải trở lại Thái Nguyên một lần nữa, như tôi đã từng lê lết ở Yên Thế, Nhã Nam, Phồn Xương, Hữu Nhuế, Hà Châu của tỉnh Bắc Giang.

Khi viết tới phần ba của bộ truyện, trong tinh thần đi và viết tôi tin rằng tôi sẽ phải làm một chuyến đi khắp các đại giang Nam Bắc, bởi vì lịch sử chiến tranh của nước Việt có quá nhiều địa danh liên quan tới chiến tranh. Chỉ nội nhắc tới những trận đánh lớn trên rừng núi Bắc Việt, Tây Nguyên trong chiến tranh Việt Pháp, cũng như những trận đụng độ giữa quân lực của hai miền, trong dự định tôi sẽ phải ghé thăm hai chục địa danh. Xa về phía Bắc là Điện Biên Phủ, Sông Lô, ở miền Trung là những địa danh Khe Sanh, Chu Lai, Quảng Trị, Huế, Bồng Sơn, Tam Quan. Xế về hướng Tây Nguyên là Pleime, Chu Prong, Tân Cảnh, Kontum, Ban Mê Thuột. Xuôi về phía Nam là Bình Long, Bình Giả, Đồng Xoài, Ấp Bắc… Đó là chưa kể quân đội hai bên còn đụng độ ở Tchépone, Hạ Lào và trên rất nhiều địa danh của xứ Chùa Tháp Cao Miên.

Hai cuốn đầu “Trên Núi Đồi Yên Thế đã được tôi hoàn tất trong vòng năm năm, và cũng đã ra mặt độc giả cả năm năm nay, thế mà từ đó tới nay tôi chưa viết thêm được một chương nào cho cuốn thứ ba, chỉ vì những lo toan cho sinh kế của đời thường. Cách đây một năm, tôi tự hiểu nếu muốn viết được chữ HẾT cho bộ truyện mà tôi ấp ủ đã hơn mười năm nay, tôi chỉ có một lựa chọn duy nhất, là dành toàn bộ thờ giờ cho việc viết. Mặc dù là biên tập viên của Nhật Báo Người Việt, trong giờ làm việc ở tòa soạn, tôi vẫn có một chút thời giờ để sưu tầm tài liệu, đọc sách vở, đối chiếu các sự kiện lịch sử được nhìn dưới nhiều góc cạnh của nhiều tác giả. Thế nhưng cứ còn làm báo, thì vẫn cứ phải ngồi yên một nơi, mỗi ngày làm một số công việc cho dù mới thoạt trông bề ngoài thì viết báo có vẻ như rất gần với cái nghiệp văn, nhưng bên trong nghề báo cũng có những khó khăn riêng, đó là chưa kể tới viết báo không hẳn là viết văn, thỉnh thoảng vì giao tế phải viết những bài tôi không định viết. Khi hiểu ra điều này thì quỹ thời gian của tôi còn lại không nhiều. Chỉ còn có vài năm, để hoàn tất ít nhất bốn cuốn sách vào khoảng hai ngàn trang còn lại.

Thế mà thời gian chỉ còn dành cho tôi có vài năm nữa. Tôi chỉ còn vài năm nữa, và tôi cầu mong cho tôi chân cứng đá mềm.

Hoàng Khởi Phong

Nguồn: Họ Nhà Mình.

Ý kiến bạn đọc (0)


Ẩn/hiện ý kiến

Thu nhỏ của sổ | Phóng to cửa sổ
security image
Nhập mã bảo vệ vào ô dưới đây:

busy
 
Tác giả bài viết này : Hoàng Khởi Phong

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Sách hay

 

Sách đã xuất bản: If you're here (Nếu em ở đây)

TVVHĐ - "Nếu em ở đây (if you are here) là tác phẩm gần đây nhất của Hồng Sakura, nội dung kể về câu chuyện của những người bạn sống cùng một khu trọ với những mục tiêu và tính cách rất khác nhau....

 

Tập sách: "Cõi nhân dị biệt" của tác giả Nguyễn Trần Bé

Giới thiệu tác giả: Nguyễn Trần Bé - Sinh năm 1960 tại Ninh Nhất, Hoa Lư, Ninh Bình - Lớn lên ở thôn Khánh An, xã Thái Hoà, Hàm Yên, Tuyên Quang...

 

Truyện dài: "Giọt nước giữa biển khơi" (Việt Tú Kỳ Phong)

"Cuốn truyện này kể lại cuộc đời của một người, ông Phạm Văn Tuyển, một con người bình thường như bao con người khác. Nhưng ông đã làm nên những kỳ tích....

 

Sách mới: Thiền và Không gian minh triết

GSTS Phạm Đức Dương, Chủ tịch Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á - Việt Nam đã phải thốt lên: "Nếu như Thiền Minh Triết được chia sẻ trong mọi gia đình, mọi cộng đồng, nhất là trong tầng lớp thanh niên (khi họ bước vào đời với ...

 

Giới thiệu thơ: Mắt lặng của nhà thơ Bàng Ái Thơ

Tôi đi tìm cõi vô thường Ngẩn ngơ tìm chốn nỗi buồn ngụ cư...

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay804
mod_vvisit_counterHôm qua1433
mod_vvisit_counterTất cả898690

20 102
,
Hôm nay:19 - 5 - 2012
Hiện có 113 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: