(El Salvador - Costa Rica)
13 Tháng Giêng
Người lái xe đầu tiên cho chúng tôi lên ở Salvador hôm qua là Noe. Anh ấy đưa chúng tôi đến thẳng gia đình bố mẹ vợ của mình, nơi anh ấy giúp chúng tôi chỗ ở trên chiếc võng bên ngoài nhà của họ. Anh ấy nói tiếng Anh tốt, đặc giọng Mỹ. Anh ấy kể rằng anh ấy cùng với cả gia đình của mình đã rời El Salvador năm 1981 để tránh cái chết chắc chắn trong suốt cuộc chiến tranh tàn khốc như thế nào. Bây giờ anh ấy đã quay trở lại với hôn thê của mình để cưới nhau ở đây.
Noe cùng với cháu trai của mình đưa chúng tôi đi qua một cánh đồng cằn cỗi để ngắm cảnh núi non. Anh ấy nói anh trai của mình, bố của cháu trai anh ấy, đã bị giết gần đây bởi những cựu quân nhân, rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc. Tại sao?
“Chúng còn giữ lại quá nhiều đạn dược”.
Ngừng một lúc, anh ấy nói tiếp.
“Chúng muốn hãm hiếp vợ anh ấy, anh trai tôi bắt đầu bảo vệ chị ấy, vì thế chúng bắn chết anh ấy”.
Noe nói rằng mỗi người ở đất nước này đều có câu chuyện buồn của mình để kể.
Chúng tôi tiếp tục lên đường dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, dừng lại để bơi trong đại dương và sau đó tiếp tục đi tới thủ đô. San Salvador là một nơi đông đúc, ồn ào và đáng sợ - ít nhất thì những khu xung quanh khu chợ trung tâm có vẻ là như thế. Chúng tôi đi vào một nhà thờ, nơi dành cho chúng tôi một ốc đảo thanh bình và yên tĩnh. Một vị linh mục già với một chiếc áo choàng trắng đơn giản và bộ râu trắng dài xuất hiện và nói chuyện với chúng tôi. Ông ấy là người Ý và rất lâu trước đây ông đã tự mình đi du lịch vòng quanh thế giới trước khi định cư tại đây. Ông ấy chào đón chúng tôi thân mật như là những công dân của đất nước Giáo Hoàng. Sự thực là cả chúng tôi và Giáo Hoàng đều là người Ba Lan, nên đôi khi điều này mở rộng cửa cho chúng tôi; một cha người Ý mời chúng tôi ở lại đêm nay trong căn phòng cạnh nhà thờ.

14 Tháng Giêng
Chúng tôi thưởng thức món ăn Salvador truyền thống pupusa cho bữa sáng. Chúng hơi giống bánh ngô, cũng được nhồi đầy pho mát, đỗ hoặc thịt, được dùng cùng với nước sốt cà chua và dưa cải bắp. Chúng tôi đã nghe người ta nói rằng những người Salvador thậm chí còn tổ chức thi ăn pupusa.
Sau bữa ăn sáng thân mật, chúng tôi rời thủ đô và đến Apulo, gần hồ Lopango. Sau khi bơi trong làn nước sạch của nó, một người đàn ông cao tuổi bắt chuyện, hỏi về cuộc hành trình của chúng tôi, về Ba Lan, về thế giới. Chúng tôi có thể nói rằng ông ấy rất hiểu biết. Vậy nên chúng tôi cùng nhau ngồi trên một con thuyền lật úp trên bãi biển và thảo luận về Đạo Phật, Chủ nghĩa Cộng sản và những đề tài khác, tất cả đều bằng tiếng Tây Ban Nha.
16 Tháng Giêng
El Salvador hóa ra lại là một đất nước thật nhỏ bé, thành ra hôm qua chúng tôi đã đi qua biên giới phía nam của nó vào Honduras. May mắn thay, chúng tôi không cần thị thực ở đây. Hôm nay, theo một con đường thẳng tắp, chúng tôi đến thủ đô, Tegucigalpa. Hoá ra nó cũng lại là một thành phố đông đúc, không hứng thú. Không ở nơi nào khác lại gặp cảnh tượng thất vọng thường thấy thế này về những đứa trẻ hít hơi keo. Chúng tôi đi bộ dọc theo một khu chợ lộn xộn, tìm khu thực phẩm và nếm thử vài cái bánh ngô. Chúng khác nhau ở mỗi nước Trung Mỹ, và bánh ngô ngon nhất mà chúng tôi từng ăn là ở El Salvador.
Cố gắng nghĩ ra một nơi để ngủ đêm nay, chúng tôi tìm một vài nhà thờ. Nhà thờ ở quảng trường chính đóng cửa, và cái khác, ở bên kia con sông dơ bẩn, thì bị biến thành chợ. Tôi không cảm thấy thích dựng lều trại ở ngoài trời tại thành phố này, vì thế đành làm theo lời khuyên của một người đàn ông thân thiện, người đã bảo rằng chỉ có cảnh sát mới có thể bảo đảm cho chúng tôi một nơi an toàn để ngủ. Chúng tôi tới học viện cảnh sát mà không biết đó là học viện dành cho nữ. Họ không gặp vấn đề gì khi cho tôi trọ lại đêm nay; họ khó xử chính là với Chopin, nhưng sau khi thương lượng, những nữ cảnh sát cho hai chúng tôi một căn phòng để ngủ đêm nay.
17 Tháng Giêng
Học viện cảnh sát thức dậy lúc 5 giờ 30 và hôm nay chúng tôi cũng vậy. Thật thú vị khi đi bộ qua thành phố vào lúc sớm như thế. Tôi rất ngạc nhiên khi nhìn thấy có rất nhiều hoạt động vào lúc sớm như thế này: những người buôn bán đã sẵn sàng bày báo ngày hôm nay ra các quầy trên phố, mọi người vội vã đi làm và đường phố đông đúc rất sớm trước bình minh. Tôi chắc chắn rằng đất nước này có nhiều thứ để mời chào hơn là cái thủ đô không hấp dẫn gì của nó, nhưng chúng tôi thật sự cảm thấy muốn tiếp tục di chuyển. Chúng tôi đi về phía con đường chạy tới Nicaragua, và ngay khi chúng tôi rời thành phố, phong cảnh trở nên cuốn hút, nhấp nhô và xanh tươi hơn. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã tới biên giới tiếp theo.
Chúng tôi đóng dấu hộ chiếu của mình, nhận một hóa đơn phí nhập cảnh, và đất nước tiếp theo là đất nước chúng tôi sẽ khám phá. Qua biên giới, con đường chạy tiếp và trông có vẻ hoàn toàn giống như ở bên kia biên giới. Cũng cây cối và núi non như thế. Ở cả hai phía của biên giới, người dân nói cùng một ngôn ngữ và cùng sống cảnh nghèo khổ. Không có gì là thực sự khác biệt, mà việc vượt qua ranh giới tưởng tượng này lại đòi hỏi quá nhiều thủ tục giấy tờ và tiền bạc. Chính bản thân con người tạo ra sự ngăn cách này. Điều khác biệt duy nhất mà tôi có thể nhận thấy, đó là họ nghe theo những nhà chính trị khác nhau và ăn những chiếc bánh ngô khác nhau.
Ở biên giới, chúng tôi quá giang một chặng trên thùng sau chiếc xe tải mui trần qua các dãy núi. Hai cậu bé đánh giầy dơ dáy làm việc ở biên giới cũng đi cùng chúng tôi. Tôi hỏi một trong hai em tại sao không đi học. Cậu bé nhún vai:
“Bởi vì chả ai cho cháu đến trường cả”.
Ngày may mắn thì cậu kiếm được 10 cordova (dưới một đôla), vì thế nếu cho cậu bé đến biên giới đánh giầy thì có lợi cho gia đình hơn là đi học.
Lạnh và đói, chúng tôi tới thị trấn Estela vào buổi tối, và không tìm thấy thứ gì ăn được ở các quầy hàng trên phố, chúng tôi hỏi đường tới chỗ bán bánh ngô. Người ta chỉ chúng tôi tới một ngôi nhà ở góc phố, nơi một phụ nữ đang hối hả quanh một căn bếp đơn sơ. Bà ta bảo chúng tôi ngồi và đợi đến lượt mình. Trong khi chờ đợi, chúng tôi nói chuyện với một người Nicaragua yêu nước. Anh ấy nói ở Mexico người ta ăn cắp, còn ở Honduras thì thiếu thốn lương thực.
“Ngoài ra, bạn sẽ không tìm thấy những bờ biển đẹp và những dãy núi hùng vĩ như thế ở nơi nào khác, và chúng tôi có bánh ngô ngon nhất thế giới”. Anh ấy cố gắng thuyết phục chúng tôi.
Món bánh ngô đã tới lượt chúng tôi - rất có thể là anh ta đúng.
18 Tháng Giêng
Không thủ đô nào ở Trung Mỹ để lại ấn tượng tốt trong chúng tôi cả. Managua cũng không phải ngoại lệ. Về mặt tích cực, nó không đông người, đường phố không bị tắc nghẽn bởi giao thông hỗn loạn và vỉa hè thì không bị lấn chiếm bởi những quầy hàng bán những đồ lặt vặt rẻ tiền. Tuy nhiên, thứ thiếu ở đây là tính cách. Khi chúng tôi hỏi một vài người về trung tâm thành phố, họ không hiểu chúng tôi có ý gì.
“Chính xác là các bạn muốn đi đâu? Đây là trung tâm rồi”.
Một anh chàng cho chúng tôi đi một chặng tới hồ Managua, cũng ở trung tâm thành phố này. Nhưng cái mùi và màu sắc của nước hoàn toàn là một cảnh tượng đáng thất vọng, thành ra chúng tôi nhanh chóng quá giang một chuyến ra khỏi thị trấn Grenada. Lúc đến đó vào buổi tối, chúng tôi được an ủi khi nhận thấy đây là một nơi quyến rũ hơn, với những con phố kiểu thuộc địa và một quảng trường có ngôi giáo đường. Thị trấn này nằm ở gần cái hồ lớn nhất ở Trung Mỹ, hồ Nicaragua.
19 Tháng Giêng
Chúng tôi tới thăm hồ và sau đó là phiên chợ sáng. Đang là mùa dứa, cho nên có hàng đống dứa, rất ngọt và nhiều nước, và chỉ có vài xen một miếng. Chúng tôi muốn chậm rãi đi xuyên qua đất nước này, nhưng người lái xe đầu tiên dừng lại đón chúng tôi trong chiéc xe tải lớn của mình lại chạy đường dài. Con đường chạy dọc theo hồ, thành ra có thể chiêm ngưỡng hai ngọn núi lửa nhô lên ngay trên mặt nước, và trước khi nhận ra thì chúng tôi đã thấy mình đang ở trên biên giới Costa Rica rồi. Có một cuộc đình công và tất cả những chiếc xe tải đang bị kẹt trong một hàng dài - một cảnh tượng quen thuộc mà chúng tôi biết rõ trên những biên giới Ba Lan của mình, chỉ khác là ở đây những người lái xe mắc võng dưới xe của họ và nghỉ ngơi trong bóng râm. May mắn cho chúng tôi, chúng tôi không có xe và có thể dễ dàng đi bộ qua biên giới này.
Những nhân viên Nicaragua muốn chúng tôi trả tiền để họ đóng dấu vào hộ chiếu. Chúng tôi nói với họ rằng chúng tôi đã trả tiền một lần rồi để đi vào Nicaragua, tại sao lại phải trả lần thứ hai để rời khỏi đất nước này?
“Polonia? Juan Pablo Segundo!”- một nhân viên vui vẻ để ý thấy chúng tôi đến từ cùng đất nước với Giáo Hoàng và mỉm cười đóng dấu hai quyển hộ chiếu.
Ở bên phía Costa Rica, người nhân viên nhập cảnh gõ tên chúng tôi vào một chiếc máy tính (chuyện này không xảy ra ở biên giới của những nước lân cận, họ không có máy tính). Không đòi hỏi tiền bạc, anh ta đóng dấu hộ chiếu và chúc chúng tôi ở Costa Rica vui vẻ. Quả là một sự đón chào dễ chịu! Nó có thật sự là một thiên đường như chúng tôi đã từng được nghe không? Chúng tôi sẽ sớm nhận ra.
Cái đầu tiên nhìn thấy ở Costa Rica là những hàng xe tải dài đang đợi kết thúc cuộc đình công. May mắn thay là những chiếc xe con được phép đi qua và chúng tôi sớm quá giang được một chặng cùng với một anh chàng người Mỹ sống ở đây. Anh thả chúng tôi xuống ở một thị trấn tên là Liberia. Chỉ nhìn thoáng qua xung quanh đã đủ để thấy rằng cái ranh giới tưởng tượng được gọi là biên giới ở đây thực sự đã chia tách hai thế giới khác biệt khỏi nhau. Trong một công viên sạch sẽ ỏ trung tâm thị trấn, những thanh thiếu niên ăn mặc hợp thời trang trượt ván và đi patanh. Ở Honduras, trẻ em ở lứa tuổi chúng phải đi bán báo, đánh giầy hoặc hít hơi keo.
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng ở đây không ai để ý đến chúng tôi, và bọn trẻ con thì không vây quanh hỏi xin tiền. Điều bất lợi duy nhất đó là, thay cho những quầy hàng đầy dãy trên đường phố bán thực phẩm rẻ tiền là những nhà hàng đàng hoàng và siêu thị. Sẽ khó sống hơn với ngân quỹ 5 đôla một ngày. Tôi đồ rằng ở nơi này chúng tôi sẽ phải tự nấu ăn nhiều hơn.
20 Tháng Giêng
Một cặp người Mỹ trung niên đưa chúng tôi tới một trong những bãi biển đẹp nhất trên bờ biển Thái Bình Dương - Tamarindo. Họ tới đây trong kỳ nghỉ mười ngày vào giữa tháng Giêng, và muốn mua một ngôi nhà gần biển. Có rất nhiều người Mỹ và Châu Âu khác ở Tamarindo, thành ra chẳng có gì ngạc nhiên là có rất nhiều nhà nghỉ, nhà gỗ một tầng ở bãi biển, nhà hàng và quán bar ở đây. Cũng như tất cả mọi người, chúng tôi dành thời gian còn lại của ngày để thư giãn trên bãi biển. Buổi tối chúng tôi di chuyển xa hơn một chút, tới một nơi tách biệt hơn và chiêm ngưỡng cuộc trưng bày ngoạn mục mà thiên nhiên trình diễn cho xem đêm nay. Chúng tôi chiêm ngưỡng lúc mặt trời lặn, và mặt trăng to, vàng, đầy đặn nhô lên trên những ngọn đồi, tỏa ánh sáng của nó trên bãi biển. Vào lúc nửa đêm, chúng tôi thấy nguyệt thực toàn phần. Chúng tôi có một nơi tuyệt nhất để xem cuộc trình diễn này - trong túi ngủ của mình, trên bãi biển với bầu trời đầy sao lấp lánh trên đầu.
21 Tháng Giêng
Sau bữa sáng với bánh mì que kiểu Pháp và chuối, chúng tôi lại di chuyển, không biết chính xác mình đang đi đâu, nhưng biết rằng không việc gì phải lo lắng về điều đó. Nếu có một con đường, nó sẽ dẫn tới một nơi nào đó. Brad, một người Mỹ khác, đón chúng tôi lên xe, đưa chúng tôi đi một quãng ngắn về phía Nam, tới một bãi biển khác. Giống như chúng tôi, anh ấy du lịch không có một kế hoạch cụ thể, điều khác biệt duy nhất là anh ấy du lịch với thời gian ngắn hơn nhiều và nhiều tiền hơn nhiều. Khi một cảnh sát dừng anh ấy lại vì lái xe mà không cài dây an toàn, anh ấy đưa cho viên cảnh sát 50 đôla với một nụ cười và sau đó nói với chúng tôi:
“Tôi tôn trọng nhu cầu kiếm sống của ông ta”.
Đi xa chút nữa, chiếc xe của anh ấy bắt đầu đi chậm lại và cuối cùng bị hỏng, dừng lại hoàn toàn. May mắn thay có Chopin đi cùng. Anh ấy nhìn xuống dưới nắp ca-bô và xử lý vấn đề ngay tại chỗ.
Hàm ơn, Brad thết chúng tôi uống bia và sinh tố đu đủ tươi trên bãi biển.
23 Tháng Giêng
Con đường đi quanh hồ Arenal đưa chúng tôi đến thị trấn nhỏ La Fortuna, nơi mà từ đó bạn có thể nhìn thấy ngọn núi lửa Arenal rất ấn tượng phun trào dung nham nóng và lửa. Không may cho chúng tôi là ngay lúc này nó đang bị bao phủ bởi những đám mây dày đặc.
1 Tháng Hai
Sau vài ngày ở San José cùng với những người chủ nhà trọ trong tổ chức Servas của mình, chúng tôi đi và ở với chị gái Ana của họ và gia đình chị ấy. Chị ấy sống trong một finca ở Limon, trên bờ biển Caribbea. Finca là một trang trại rộng lớn, nhưng cái này trông giống như một khu rừng rậm hoang sơ, một khu vực rộng lớn với những cây dừa, chuối, và nhiều loại cây, bụi rậm, côn trùng và chim chóc. Khu điền sản chạy dài đến tận bờ biển. Mê mải, tôi đi bộ xuyên qua thiên đường nhiệt đới này, hit thở bầu không khí thơm ngát và chụp ảnh những bắp hoa chuối màu tím, những quả dừa đang nảy chồi và những bông hoa rừng hoang dã có hình dạng và màu sắc lạ kỳ. Chopin nhặt một quả bánh mỳ và Ana chỉ cho chúng tôi cách nấu nó. Tôi không biết tại sao nó lại gọi là quả bánh mỳ; thay vào đó nó nên được gọi là quả khoai tây, bởi vì khi nấu lên, nó có hương vị giống như khoai tây. Và khi cắt thành những lát mỏng và rán thì nó lại có mùi vị giống hệt các món rán kiểu Pháp.
(Trích "Lang thang theo định mệnh" của Kinga Freespirit, NXB Hội Nhà văn liên kết với Công ty Truyền thông Hà Thế và Viện phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng xuất bản và phát hành tháng 6 năm 2009)
Ý kiến bạn đọc (0)
Ẩn/hiện ý kiến
- Bữa cơm Huế ở Pa-ri
- Loi Krathong, lễ hội lớn của người Thái
- Lịch sử và ý nghĩa lễ hội Halloween
- Delft, vẻ đẹp đời thường của một Hà Lan xưa
- Lễ hội tháng Mười
- Những con khủng long trong nước sốt cà chua
- Chào mừng các bạn
- Tiền không thể mua được
- Ngôi sao may mắn dẫn đường các bạn
- Ước mơ trở thành sự thật












